Lê Công Thành “Kẻ giác ngộ đơn độc”

Nguyễn Quân 29/05/2019


Ông có một vị trí đặc biệt trong lịch sử điêu khắc nước ta nửa sau  thế kỷ 20. 

 Những năm thập niên 1960, Lê Công Thành thuộc ít ỏi các nhà điêu khắc được đào tạo cho nền nghệ thuật xã hội chủ nghĩa non trẻ đầy hy vọng với ảnh hưởng bao trùm của điêu khắc anh hùng ca Xô-viết mô tả những con người mới điển hình và sự hy hoàng của những chiến công trong một thứ ngôn ngữ hình hộp hóa và các chủ đề khoa trương được mô-tip hóa. Những năm thập niên 1970, ông đi đầu, cùng Nguyễn Hải, trên con đường trở về với truyền thống điêu khắc dân tộc mà sự ‘phát hiện lại’ điêu khắc đình làng Bắc Bộ là nguồn cảm hứng bất tận. Tuy nhiên Lê Công Thành không khai thác tính ‘dân gian’ và bộc trực tùy hứng của hình khối hay sức biểu cảm ngây thơ của khuôn hình bố cục mà thanh lọc các đường nét làm cho chúng trở nên thanh tú, yêu kiều, tiết giảm các bố cục về sự sáng rõ mạch lạc hoàn toàn khoa học. Những tác phẩm Bà má nghiên trầu, Cô gái cuốn chỉ, Súy Vân giả dại và tượng đài Núi Thành là những sáng tác tiêu biểu của hai giai đoạn  này khẳng định phong cách riêng của ông còn ảnh hưởng sâu rộng đến hai, ba thế hệ đàn em, đến tận đầu những năm 1990. Đâu đâu trong điêu khắc lớn và nhỏ, trong nhà và ngoài trời, ở lớp học và xưởng mỹ nghệ… cũng thấy bóng dáng ám ảnh của Thành - Hải (Lê Công Thành và Nguyễn Hải, hiện đại lý trí một ông và dân tộc tình cảm một ông!). Những năm thập niên 1980 và mãi về sau  Lê Công Thành tham chiếu sâu sắc điêu khắc hiện đại nhất là  More, Brancusi và Calder.

 

Nhà điêu khắc Lê Công Thành. Ảnh: Thiên Điểu


Không hiểu điều gì làm ông đột nhiên triệt để từ bỏ con đường thênh thang vừa được mở ra của tượng đài, danh hiệu và giải thưởng mà nhiều nghệ sỹ ao ước. Mặt khác vào những năm đổi mới sôi sục tưởng nhà nghệ sỹ tiên phong sẽ uy dũng phất cờ đi đầu trên con đường ra thế giới thì ông lại rút lui triệt để về xây một cái am nghệ thuật tại nhà mình, trở thành một cư sỹ thẩm mỹ theo một thứ đạo nghệ thuật đậm đặc duy mỹ và tâm linh siêu hình. Chỉ có thể đoán là Một sự giác ngộ bên trong to lớn đã xẩy ra.

Ông đắm chìm trong những dòng suy tư, cảm xúc của riêng. “Hành đạo: bằng đường nét và mầu sắc trên vô vàn những bức tranh hết sức thanh tú và đài các. Vô vàn những tượng nhỏ và vừa bằng đá, tấm kim loại hau các-tông  được kết cấu phức tạp hoặc được phân rã, giải phẩu thành các đơn nguyên tối giản nhiều ngụ ý. Chúng biến hóa, chiếm chỗ hoặc chuyển dịch khá bí ẩm mộng mơ trong các không gian giả định nào đó.  Điêu khắc của ông có mùi vẻ siêu thực rõ ràng. Nó không giấu diếm và còn đắc chí khoe ra niềm mê đắm cái nhục cảm, cái thần bí của điêu khắc đá Chăm và điêu khắc gỗ Tây Nguyên của tác giả. Và ông chỉ còn kết nối với mọi người qua những “lời của Trên” phán bảo. Khi đó ông nói chuyện trực tiếp hoặc qua điện thoại - luôn là những độc thoại trường thiên hàng giờ đồng hồ - rằng  Trên đã mách bảo ông điều gì, rằng Trên đã tiên báo và ra lệnh cho ông gặp ai, nói gì với họ. Ông xuất hiện và ứng xử thật đơn giản và kỳ lạ vừa cụ thể sắc xảo, khôn khéo vừa ù ờ, xa cách mù mờ “như ma trơi”, như không phải người của cõi này. Trên 80 tuổi ông còn tuyên bố và thực hành một cuộc “vào đời”- thâm nhập thức tế đời sống tình dục và mưu sinh của các cô gái làng chơi vừa son trẻ vừa bệnh hoạn. Ông tuyên bố vừa mê đắm hành lạc với họ như còn trai trẻ vừa quyết ra tay siêu anh hùng cứu độ mỹ nhân!

 

Lê Công Thành, Mẹ con, đồng, 1982. St. Trần Hậu Tuấn

  

Lê Công Thành, Vân dại, đồng, 1973. BTMTVN (trái); Bà má nghiền trầu, gỗ, 1973. BTMTVN (phải)


Điêu khắc của ông, lạ thay, không còn ảnh hướng gì tới lớp nghệ sỹ sau những năm thập niên 1990, đạo quân động đảo đến với điêu khắc hiện đại- hậu hiện đại qua những nẻo đường khác để vị tướng già đầu bạc  của điêu khắc một thời cô đơn trên những Đỉnh Giáp Non Thần tưởng tượng của chính mình.

Điêu khắc cảu Lê Công Thành trở nên rộng lớn, phong phú nhờ sự quy giản triệt để về duy nhất cơ thể ngưới nữ và những ám ảnh thần linh phồn thực tiền sử.Vú mông bụng cánh tay bắp vế lưng vai rốn âm hộ dương vật trứng dạ con… viết liền một mạch bằng cách cắt rời chúng ra thành những từ riêng nghĩa độc lập. Các cơ phận-môtip ấy phải tự sống trong một không gian kết cấu giả tưởng đã được thanh lọc nhờ phép thông thiên của ‘kẻ giác ngộ’ là chính tác giả! Vật thể nhục cảm và không/thời gian siêu thực là hai đặc trưng của điêu khắc Lê Công Thành nhưng là một thứ “nhục cảm chay tịnh” bởi biểu chất, hình khối quá duy mỹ và một thứ “siêu thực  tỉnh táo” bởi đã được tính toán chi li, chính xác. Có lẽ ông có thể tự gọi mình là ‘kẻ gíac ngộ đơn độc’. Người xem sẽ bị đặt trước câu hỏi: Nếu đây đích thị là điêu khắc thì nó là một thứ điêu khắc lớn. Nếu không đích thị điêu khắc thì nó chẳng là gì cả!

Đó là câu hỏi định giá hà khắc nhất mà chỉ các nghệ sỹ thật sự tự tại mới được đối diện trong thời gian.

 

Lê Công Thành, Thiếu nữ, sắt uốn, 1990. St. Trần Hậu Tuấn

 

Lê Công Thành, Người mẹ, đá trắng, 2007. BTMTĐN

 

Lê Công Thành, Đà Nẵng, sơn dầu, 1999. BTMTĐN

 

N.Q (Số 4, tháng 4/2019)

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)