Điểm tin mỹ thuật nhiếp ảnh thế giới, từ 21 đến 27/5/2017

Nguồn:

Andrea Tran (Tổng hợp và lược dịch) 09/06/2017


Tại VENICE, Ý, mới đây, theo bản di chúc của nhà sưu tập Luisa Toso người thành phố Venice, bộ sưu tập của Quỹ Solomon R. Guggenheim đã được nhận một món quà tặng cực kỳ quý giá: một bức tranh sơn dầu hiếm thấy của Amedeo Modigliani, tiêu đề “La femme en blouse marine” (Người đàn bà mặc áo lính thuỷ”), sáng tác năm 1916. Bức tranh này sẽ được trưng bày tại Peggy Guggenheim Collection vào tháng 6/2017. Nó sẽ trưng bày cùng với bộ ba bức tranh khác của Modigliani thường được gọi là "Modì" (tiếng Pháp: "nguyền rủa") thuộc bộ sưu tập của Solomon R. Guggenheim Foundation. Người phụ nữ trong bức tranh này cũng từng xuất hiện trong một bức chân dung khác của Modigliani, cùng năm, “La servetta seduta” (Cô giúp việc). Bức tranh này từng được trưng bày trong một triển lãm cá nhân của Modigliani tháng 12/1917 tại phòng trưng bày Paris Berthe Weill. Năm 1917, bức tranh này đã được Paul Guillaume mua lại và xuất hiện hiếm hoi sau đó, tại Palais des Beaux-Arts, Bruxelles năm 1933, tại Kunsthalle Basel năm 1934, trước khi nhập vào bộ sưu tập của nhà sưu tập Luisa Toso ở Venice năm 1952. Kể từ đó, bức tranh đã được chủ nhân trưng bày tại Milan, Rome, Padua, Verona, Venice, Ancona, Caserta và Turin.

(Artnet)

 

 

Amedeo Modigliani, “Người đàn bà mặc áo lính thuỷ” 1916. ©Solomon R. Guggenheim Foundation.

 

 

Tại BAD HOMBURG, Áo, từ ngày 21/5 đến 1/10/2017, liên hoan nghệ thuật điêu khắc Bienkachsen Sculpture Biennale lần thứ 11 được tổ chức với các nghệ sĩ Áo là hạt nhân. Có tổng số 37 nghệ sĩ với khoảng 80 tác phẩm được trưng bày tại đây và bảy địa điểm khác ở quanh vùng Rhine-Main. Phiên bản thứ 11 của "Blickachsen" có mặt nhiều nghệ sĩ vào hàng cổ điển như Fritz Wotruba (1907-1975), một trong những nhà điêu khắc quan trọng nhất của Áo hế kỷ 20 và nhiều nghệ sĩ bậc thầy khác: Joannis Avramidis (1922-2016), Bruno Gironcoli (1936-2010), Karl Prantl (1923-2010). Bên cạnh những tác giả cổ điển, "Blickachsen lần thứ 11 còn mang tới cho khán giả nhiều ngạc nhiên với các tác phẩm của nhiều nghệ sỹ đương đại và ngoại quốc, ví dụ như Raul Walch (sinh năm 1980) hay hai nghệ sĩ người Đức Mario Pitsch và Oliver Schau (cả hai cũng đều sinh năm 1980). "Blickachsen" không chỉ mở ra những địa điểm thú vị cho những quan điểm điêu khắc mới mà còn thể hiện được chiều kích thời gian và sự phổ biến rộng rãi của những tác phẩm điêu khắc đầy tính sáng tạo trong những năm gần đây tại Áo và các nước láng giềng.

 (Art Daily)

 

 

 

 

 

Một số tác phẩm tại Bienkachsen Sculpture Biennale lần thứ 11. ©blickachsen.de

  

 

Tại ZURICH, Thuỵ Sĩ, từ 20/5 đến 27/8/2017, Bảo tàng nhiếp ảnh Winterhur tổ chức triển lãm hồi cố của nhiếp ảnh gia kiên nhà làm phim người Mỹ Danny Lyon (sinh năm 1942) mang tên “Danny Lyon – Thông điệp gửi Tương lai”. Với tư cách của một người quan sát tận mắt và kỹ lưỡng các vấn đề chính trị xã hội, Lyon đã phát triển một quan điểm nhiếp ảnh riêng, mang tính chủ quan và có xu hướng nhiếp ảnh tài liệu theo truyền thống của Walker Evans và Robert Frank, khác với lối nhìn một chiều của các phương tiện truyền thông chính thống. Ngoài những hình tượng mang tính biểu tượng trong sự nghiệp của ông, trong triển lãm này cũng lần đầu tiên xuất hiện một số bộ phim ít được biết đến của ông được chọn lựa từ kho tư liệu lưu trữ cá nhân. Là con trai của những người nhập cư Do Thái, Lyon lớn lên tại Queens, New York. Trong những năm 1970 và 1980, ông là phóng viên tự do, du hành nhiều nơi trên thế giới như Bolivia, Mexico, Colombia và Haiti, ghi lại những khung cảnh đời thường của những người lao động bất hợp pháp, trẻ em đường phố và cả những cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài François Duvalier. Triển lãm trưng bày khoảng 150 bức ảnh, phim và nhiều hiện vật khác.

 (The Art Newspaper)


Danny Lyon, “Leslie, Downtown Knoxville”, 1967 ©Danny Lyon.


 

 Danny Lyon, “Những người biểu tình ở Oakland”, 2011 ©Danny Lyon.

 

Danny Lyon, “Haiti, 1987”. ©Danny Lyon.

 

Danny Lyon, “John Lennon và Danny Seymour, The Bowery, New York, 1969”. ©Danny Lyon.

 

 

Tại BOSTON, Mỹ, Hội đồng Quản trị Bảo tàng Isabella Stewart Gardner mới đây đã tuyên bố tăng gấp đôi tiền thưởng, từ 5 triệu USD lên 10 triệu USD, cho những ai cung cấp nguồn tin để thu hồi lại 13 tác phẩm nghệ thuật bị đánh cắp từ bảo tàng từ năm 1990. Vào năm 1997, Bảo tàng đã từng tăng khoảng tiền thưởng này từ 1 triệu USD lên 5 triệu USD – một khoản tiền thưởng lớn nhất trên thế giới. Anthony Amore, Giám đốc An ninh của Bảo tàng, cho biết: "Chúng tôi khuyến khích mọi người nếu có thông tin xin liên lạc trực tiếp với bảo tàng, và chúng tôi đảm bảo sự bảo mật tuyệt đối." Vào sáng sớm ngày 18/3/1990, hai tên trộm đóng giả là nhân viên cảnh sát Boston đã đột nhập vào bảo tàng Gardner, cuỗm đi 13 tác phẩm nghệ thuật có giá trị, trong đó có cả các kiệt tác của Vermeer, Rembrandt, Manet và Edgar Degas. Đây là vụ trộm nghệ thuật lớn nhất trong lịch sử thế giới, với tổng trị giá hơn 500 triệu USD. Tác phẩm “Hoà nhạc”, một trong 36 bức tranh của Vermeer, và “Chúa Ki Tô trong cơn bão trên hồ Galilee” của Rembrandt, bức phong cảnh duy nhất của ông, được xem là hai trong số  những kiệt tác bị đánh cắp có giá trị nhất trên thế giới.

 (Artnews)

 

 

Johannes Vermeer, Hoà nhạc, khoảng 1665. Tranh của bảo tàng Isabella Stewart Gardner Museum, Boston

hiện vẫn chưa tìm thấy. ©Isabella Stewart Gardner Museum.

 

 

Rembrandt, “Chúa Ki Tô trong cơn bão trên hồ Galilee”, 1633. Tranh của bảo tàng Isabella Stewart Gardner Museum, Boston

hiện vẫn chưa tìm thấy. ©Isabella Stewart Gardner Museum.

 

 

Khung cảnh một gian triển lãm của của bảo tàng Isabella Stewart Gardner Museum, Boston, sau khi bị mất trộm tranh năm 1990.

©Isabella Stewart Gardner Museum.

 

 

Tại METZ, Pháp, từ 20/5 đến 30/10/2017, Trung tâm nghệ thuật Pompidou - Metz tổ chức cuộc triển lãm hồi cố quy mô “Fernand Léger. Vẻ đẹp ở quanh ta” nhằm vinh danh Fernand Léger, người con của thành phố này, một trong những nhân vật nổi tiếng nhất của thời hiện đại. Đi từ chủ nghĩa Lập thể đến những cam kết với chủ nghĩa cộng sản, hội hoạ của Léger luôn gắn liền với viễn cảnh về sự biến đổi đời sống con người bởi xu hướng cơ giới và sản xuất hàng loạt. "Vẻ đẹp không bị mã hoá hoặc phân loại, vẻ đẹp ở quanh ta, dưới vẻ ngăn nắp của một bộ nồi trên tường trắng của căn bếp hay trong một viện bảo tàng" – câu nói Fernand Léger vang lên như một bài thánh ca ca ngợi tinh thần tự do quan sát, từ chối bất kỳ thị hiếu thông thường nào hoặc sự thiết lập hệ thống phân cấp giữa nghệ thuật và cuộc sống hàng ngày. Được tổ chức trên lãnh thổ mang dấu ấn của quá khứ công nghiệp, triển lãm “Fernand Léger. Vẻ đẹp ở quanh ta” đại diện cho một trong những sự kiện lớn của kỷ niệm bốn mươi năm của Trung tâm Pompidou.

 (Artforum)

 

Fernand Léger, “Le Balustre”, 1925. ©MoMA, New York.

 

 

Fernand Léger, “Les Loisirs-Hommage à Louis David”, 1948 - 1949. ©Centre Pompidou/MNAM-CCI.

 

 

Tại NEW YORK, Mỹ, các tác phẩm của Leslie Gill và Frances McLaughlin-Gill lần đầu tiên được trưng bày tại Howard Greenberg Gallery từ ngày 25/5 đến 7/7/2017. Hai vợ chồng nhà Gill đều là những nhiếp ảnh gia tên tuổi trong lĩnh vực ảnh thời trang và mỹ thuật trong những năm 1940 - 1950. Trong thế giới các nghệ sĩ đồng nghiệp nổi tiếng, họ nổi bật như những người tiên phong và có sự nghiệp vang dội nhất. Triển lãm lần này trưng bày các tác phẩm của Leslie Gill chụp trong khoảng thời gian 1935-1957 và của Frances McLaughlin-Gill, trong thời kỳ 1943-1993. Bên cạnh đó, triển lãm cũng trưng bày nhiều tác phẩm của các đồng nghiệp nổi tiếng của họ như Erwin Blumenfeld, Louise Dahl-Wolfe, Paul Outerbridge, Gordon Parks, Norman Parkinson, Irving Penn, và Man Ray. Các tác phẩm của họ hiện có mặt trong rất nhiều bảo tàng lớn và các bộ sưu tập nghệ thuật tư nhân nổi tiếng như Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan, Trung tâm Nhiếp ảnh Quốc tế, New York; Bảo tàng Chân dung Quốc gia Smithsonian, Washington, D.C; Bảo tàng Nghệ thuật Cleveland; Bảo tàng Chân dung Quốc gia, London, Anh.

 (Artnews) 

 

 

Leslie Gill, “Bố cục đồ vật bên cửa sổ”, 1937. ©Leslie Gill/Howard Greenberg Gallery.

 

Frances McLaughlin-Gill, “Vô đề (Lisa Fonssagrives-Penn)”, khoảng 1950. ©Leslie Gill/Howard Greenberg Gallery.

  

Leslie Gill, “Điêu khắc dân gian với xoài”, 1948. ©Leslie Gill/Howard Greenberg Gallery. 


 

Frances McLaughlin-Gill, “Vô đề (ảnh chụp cho tạp chí Vogue Magazine), khoảng 1940. ©Leslie Gill/Howard Greenberg Gallery.

 

 

Tại WARSAW, Ba Lan, sau 4 năm trùng tu tốn nhiều công của, Bảo tàng Warsaw – nơi lưu giữ nhiều kỷ vật còn sót lại của thành phố cổ Warsaw từng bị san bằng trong Thế chiến II, đã mở cửa lại. Trong cuộc nổi dậy năm 1944, hàng chục ngàn người Ba Lan đã chiến đấu chống lại những kẻ xâm lược Đức Quốc Xã, và đây là một trong những giai đoạn đẫm máu nhất trong lịch sử Ba Lan, lấy đi sinh mạng của khoảng 200.000 cư dân Warsaw. Đức Quốc Xã đã trả thù bằng cách san bằng thành phố xinh đẹp này. Sau chiến tranh, tòa thị chính cũ và viện bảo tàng này - nơi có 11 căn nhà kết nối tạo thành một mê cung đầy mê hoặc, lưu giữ "các nhân chứng vật chứng và những mảnh ghép tạo dựng lịch sử của thành phố". Bảo tàng nằm trên Quảng trường Chợ Cũ, được tái dựng lại cẩn thận sau chiến tranh và hiện nay được liệt kê là Di sản Thế giới của UNESCO. Chi phí sửa chữa lớn của bảo tàng là 64 triệu Zloty (15 triệu Euro, 17 triệu Đô la Mỹ) và được đồng tài trợ bởi thành phố và khoản vay từ Na Uy, Iceland và Liechtenstein.

 (AFP) 

 

Tủ trưng bày tiền cổ trong Bảo tàng Warsaw. ©JANEK SKARZYNSKI / AFP. 

 

Bảo tàng Warsaw – gian trưng bày chân dung những nhân vật lịch sử của thành phố. ©JANEK SKARZYNSKI / AFP. 

 

 

Tại LUND, Thuỵ Điển, từ ngày 20/5 đến 17/9/2017, nhân kỷ niệm 350 năm ngày ra đời Đại học Lund, Bảo tàng nghệ thuật Lund tổ chức một cuộc triển lãm nhóm lớn mang tên "Whither the Winds" với các tác phẩm của các nghệ sỹ từng là giảng viên và sinh viên của Học viện Nghệ thuật Malmö (một bộ phận thuộc Đại học Lund). Được thành lập vào năm 1995, Học viện Nghệ thuật Malmö được xem là một trong những cái nôi của nghệ thuật hội hoạ và đồ hoạ đương đại của Thuỵ Điển. Triển lãm "Whites the Winds" giới thiệu tuyển chọn của nhiều nghệ sĩ thành đạt, những người đã có những năm tháng học và giảng dạy tại Học viện Nghệ thuật Malmö. Đến triển lãm này, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng tác phẩm của các bậc thầy Thuỵ Điển như Rosa Barba, Charif Benhelima, Matthew Buckingham, Jimmie Durham, Maj Hasager, Olav Christopher Jenssen, Mary Kelly, Joachim Koester, Matts Leiderstam, Sharon Lockhart, Lars Nilsson, João Penalva, Nina Roos, Jim Shaw, Sophie Tottie, Emily Wardill và Haegue Yang.

 (Art Daily)

 

 

 

 

 

Một số tác phẩm trong triển lãm.

 

 

Tại AMSTERDAM, Hà Lan, từ ngày 28/5 đến 23/7/2017, Eduard Planting Gallery mở triển lãm “Những trình tự mới” của nhiếp ảnh gia danh tiếng người Hà Lan Michel Szulc Krzyzanowski. Hiện nay, bộ sưu tập của gallery nổi tiếng thế giới chuyên về nhiếp ảnh này cũng sở hữu nhiều tác phẩm kinh điển cũng như nhiều cuốn sách ảnh nổi tiếng của ông, ví dụ như “Sequences: The Ultimate Selection”. Michel Szulc Krzyzanowski là một trong những người sáng lập ra dòng “nghệ thuật nhiếp ảnh nối ghép đen trắng” vào những năm 1970. Sau 15 năm, ông quyết định tạm dừng, vì phương pháp này đã không mang lại cho ông những cái nhìn sâu sắc mới. Tuy nhiên, kể từ năm 2016, ông bắt đầu thực hiện lại những loạt “ảnh nối ghép” với màu sắc và dư vị tươi hoàn toàn mới, đương đại và độc đáo. Nhiếp ảnh giàu tính ý niệm của Szulc Krzyzanowski đã được trưng bày tại nhiều bảo tàng lớn trên thế giới như Bảo tàng Stedelijk Amsterdam, Trung tâm Pompidou ở Paris, Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ở New York, Bảo tàng Ludwig ở Cologne, Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại San Francisco, Bảo tàng nhiếp ảnh The Hague.\

 (Art Daily) 

 

 

 

 

 

 

 

Một số tác phẩm của Michel Szulc Krzyzanowski trong triển lãm. ©Michel Szulc Krzyzanowski.

 

 

Tại ANTWERP, Bỉ, từ 27/5 đến 24/9/2017, Bảo tàng Middelheim mở triển lãm nhan đề “Some Time” với các tác phẩm của điêu khắc gia người Anh Richard Deacon. Triển lãm bao gồm 31 tác phẩm, trưng bày trong nhà và ngoài trời, của nhà điêu khắc đương đại nổi tiếng thế giới này. Triển lãm xoay quanh tác phẩm “Never Mind” của Deacon, một hiện vật quan trọng trong bộ sưu tập của bảo tàng từng đặt hàng tác giả từ năm 1993. Để phục vụ triển lãm này, được nghệ sĩ đồng ý, bảo tàng đã phục dựng một phiên bản của nó bằng thép không gỉ. Tiêu đề triển lãm đề cập đến tính chất tạm thời về thời gian, theo nghĩa đen, là một khoảng thời gian ngắn. Triển lãm khám phá một số chủ đề chính mà Richard Deacon đã quan tâm trong suốt hơn 40 năm sự nghiệp, đặc biệt là sự tái chế. Deacon tự gọi mình là “nhà chế tạo và thẩm định khả năng phục hồi của vật liệu, ngôn ngữ và tầm quan trọng của vật thể”. Nhiều tác phẩm trong triển lãm được sắp xếp và xây dựng lại hoàn toàn hoặc một phần dựa trên những tác phẩm cũ. Richard Deacon đoạt giải thưởng Turner năm 1987 và giải thưởng Robert Jakobsen năm 1995. Năm 1996 Bộ Văn hoá Pháp trao tặng ông Huân chương Bắc đẩu Bội tinh, và năm 1999 ông được phong tặng tước CBE (Commander of the Order of the British Empire).

(The Art Newspaper)

 

Richard Deacon, “Never Mind”, 1993–2017. ©Richard Deacon.


Richard Deacon, “Tomorrow And Tomorrow And Tomorrow ‘B’”, 1999 (trái), “I Remember (3)”, 2013 (phải). ©Richard Deacon.

 

 

Andrea Tran (Tổng hợp và lược dịch)

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)