Họa sỹ Bửu Chỉ người không đứng ngoài thời cuộc

Phan Thanh Bình 03/07/2018


Họa sỹ Bửu Chỉ (1948-2002) là một gương mặt nghệ sỹ tạo hình khá cá tính, với phong cách, thần thái, tư chất nghệ thuật rất riêng không chỉ với Huế mà còn là một họa sỹ có khoảng trời riêng không thể nhầm lẫn trong dòng chảy hội họa Việt Nam nửa sau thế kỷ XX. Ông là Ủy viên BCH Hội Nghệ sỹ Tạo hình Việt Nam (nay là Hội Mỹ thuật Việt Nam) từ năm 1983 đến năm 1985, Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế. Tham gia nhiều triển lãm trong nước và quốc tế, đặc biệt được mời tham gia triển lãm Quyền hy vọng (The Right to Hope) do Liên hiệp Quốc tổ chức (1995), tham gia Trại Sáng tác Họa sỹ trẻ Liên Xô (1985), triển lãm ở Pháp (1988), Hồng Kông (1994) có tranh trong Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và trong nhiều sưu tập tranh trên thế giới.

 

Họa sỹ Bửu Chỉ 


Họa sỹ Bửu Chỉ sinh ngày 8 tháng 10 năm 1948 ở Huế, trong một gia đình thuộc Hoàng tộc. Bửu Chỉ ít nhiều được khơi gợi niềm đam mê hội họa từ cha mình. Cha của Bửu Chỉ là một công chức, có vẽ tranh, nhưng cha ông lại muốn con trai học ngành luật. Mẹ ông là một giảng sư Pháp văn của trường Trung học Đồng Khánh danh tiếng, nhờ vậy ông cũng có điều kiện được hấp thụ văn hóa và ngôn ngữ Pháp từ rất sớm, trong đó có các danh họa Pháp cũng như họa sỹ hiện đại mà sau này ông ngưỡng mộ và chịu ảnh hưởng một phần về bút pháp, tư tưởng nghệ thuật của họ như Cezanne (1839-1906), Modigliani (1884-1920), Picasso (1881-1973)…

Sau khi học xong ở Trường Quốc Học-Huế, theo mong muốn của người cha, Bửu Chỉ vào học ở Khoa Luật thuộc Viện Đại học Huế và tốt nghiệp năm 1971. Dường như thảm đỏ đã trải ra trước cuộc đời và cho tương lai đầy xán lạn của ông, nhưng trước cảnh đất nước điêu tàn, nhân dân khổ đau, mất mát vì chiến tranh, Bửu Chỉ đã không chọn cuộc sống nhung lụa, ông sớm dấn thân vào con đường tranh đấu mà điểm khởi đầu là từ Phong trào sinh viên, học sinh đô thị miền Nam sôi động những năm cuối thập kỷ 60 đầu 70 và đỉnh cao là năm Mậu Thân 1968. Năm 1968, chàng thanh niên Bửu Chỉ chứng kiến sự khốc liệt và tàn bạo của chiến tranh ngay trên quê hương mình, thấy bao nỗi khổ đau cùng sự hoang tàn của Huế Cố đô năm 68, tất cả đã ghi đậm trong ký ức và làm thay đổi nhãn quan tư tưởng của ông. Bửu Chỉ đã tham gia phong trào chống chiến tranh một cách sôi nổi, tràn đầy nhiệt huyết tuổi trẻ. Bửu Chỉ không chỉ vẽ tranh, mà bằng sự sắc sảo và uyên thâm của một sinh viên luật, ông luôn đề cao chính nghĩa, tham gia diễn thuyết kêu gọi hòa bình, tự do và lên án chế độ tay sai Sài Gòn cũng như sự can thiệp của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Ông viết những lời bình sắc bén trên các tập san tranh đấu, viết truyền đơn, kẻ vẽ biểu ngữ, tham gia hát trong phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe do nhạc sỹ Trịnh Công Sơn khởi xướng. Những tranh bút sắt, mực nho và phác họa nhanh của Bửu Chỉ về đề tài chống chiến tranh xuất hiện những năm 1969-1972 nhanh chóng được coi là một vũ khí nghệ thuật đầy sức mạnh trong phong trào đấu tranh đòi hòa bình cho dân tộc. Những tác phẩm minh họa các tập nhạc của Trịnh Công Sơn như Ta phải thấy mặt trời,  minh họa tập nhạc: Tiếng ca giữ nước (1970), minh họa bìa và phụ bản đầy sắc bén, mang tính chiến đấu mạnh mẽ trên tạp chí Đối diện ra năm 1971-1972 như bìa số 32, Xuân Nhâm Tý 1972, các minh họa Bàn tay cầm bút lửa, Người tù bẻ xiềng, Chiếc đinh của tội ác, Bầy quạ chiến tranh, Các thế hệ đi đày, Hãy cùng bay lên với khát vọng… thực sự là những tác phẩm vừa tinh tế, nghệ thuật lại đậm tinh thần phản kháng để cổ vũ phong trào tranh đấu hiệu quả và có tác động sâu sắc đến tình cảm tư tưởng của người dân.

 

Bửu Chỉ , Chứng tích, 1974


Bộ tranh Tiếng thét từ lòng đất của ông là sự tập hợp những tác phẩm mang tính chiến đấu trực diện bằng vũ khí nghệ thuật vào kẻ thù ngay trước mặt, trong tranh là những bàn tay ứa máu bị xiềng xích chới với, cố thoát khỏi những sợi kẽm gai, cùng tiếng gào thét đớn đau, những gương mặt, ánh mắt vô vọng sau song sắt nhà tù, những hình thể rã rời, thê thảm trước đòn roi bọn cai ngục... Ở những tranh này Bửu Chỉ rất gần danh họa Picasso với tinh thần của Guernica (1937) thức tỉnh và kêu gọi thống thiết lương tri nhân loại hãy chặn đứng tội ác của bọn phát xít ở Tây Ban Nha và giờ đây là ở Nam Việt Nam. Chính sự bạo liệt trong bút pháp tạo hình mang tư tưởng tranh đấu, tinh thần phản kháng quyết liệt chế độ cũ, tố cáo chiến tranh, ca ngợi và khát khao hòa bình mãnh liệt đã làm chính quyền Sài Gòn tức tối. Ngày 12/4/1972, Bửu Chỉ bị bắt giam lần đầu, đem biệt giam tại Đà Nẵng. Sau khi ra tù, Bửu Chỉ trở về Huế hoạt động, sau đó bị bắt lại, rồi bị trục xuất ra khỏi Huế từ ngày 01/12/1972. Trước tình hình đó, không còn cách nào khác, Bửu Chỉ vào Sài Gòn tham gia hoạt động vẽ tranh chống chiến tranh và bị bắt giam tại đây suốt 3 năm cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng. Suốt cả thời gian trong ngục tù, ông chưa bao giờ ngừng nghỉ việc tranh đấu, ông vẽ lên mọi thứ có thể, như vẽ trên vỏ bao thuốc lá, giấy hút thuốc, bao diêm, giấy vụn, bìa sách… và bằng mọi cách tranh vẽ cũng như các bài viết của ông vẫn tiếp tục xuất hiện trong các ấn phẩm bí mật ở nhà tù, rồi được lưu chuyển ra ngoài đến mọi nơi và ra cả nước ngoài, có tranh được lưu tại Thư viện Đại Học Boston (Mỹ), được một số báo tiến bộ ở Pháp, Đức, Canada in lại, và có lúc những tranh của ông được chuyển về Hà Nội trong những ngày hội đàm Paris căng thẳng. Bức tranh Trong vòng tay héo vẽ ở nhà tù Chí Hòa, năm 1974 thể hiện đôi bàn tay người mẹ già che chở cho bé thơ và bức Người nữ tù thể hiện người mẹ bị trói tay với đứa con nhỏ dại là một tác phẩm giàu tinh thần nhân đạo, kêu gọi tự do, hòa bình và lên án chiến tranh khổ đau. Kẻ thù  đàn áp phong trào sinh viên học sinh đô thị miền Nam, thu đốt các ấn phẩm tranh đấu, trong đó có những ấn phẩm tranh bút sắt phản kháng của Bửu Chỉ, nhưng chúng không ngăn được ông viết, vẽ và tiếp tục tranh đấu. Sau này, đa phần các tác phẩm bút sắt, mực nho của Bửu Chỉ được chính ông tập hợp lại trong vựng tập Mặt trời Tự do đã cho thấy sức sáng tạo dồi dào và tinh thần phản kháng quyết liệt, dữ dội của Bửu Chỉ, cũng như sự đóng góp to lớn của họa sỹ Bửu Chỉ đối với Phong trào sinh viên, học sinh đô thị miền Nam trong đấu tranh chống chiến tranh, đòi hòa bình, tự do trước 1975. Ghi nhận những cống hiến, tài năng, sức sáng tạo nghệ thuật của họa sỹ Bửu Chỉ, năm 2016, Chủ tịch nước đã trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật cho bộ tác phẩm Tiếng thét từ lòng đất của ông.

 

 


Tác phẩm của họa sỹ Bửu Chỉ vẽ trong nhà tù Chí Hòa, Sài Gòn, năm 1973-1974


Sau năm 1975, hòa cùng niềm vui đất nước thống nhất, họa sỹ Bửu Chỉ tham gia Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bình Trị Thiên, ông sáng tác trên chất liệu sơn dầu là chủ yếu, với những chủ đề gắn bó và nồng cháy hơi ấm của hiện thực cuộc sống. Với những tác phẩm mới vào những năm trước 1980 cho thấy ông quan tâm đến cuộc sống của người dân và tình hình đất nước, ông vẽ về nhà máy Long Thọ theo lối cắt mảng của chủ nghĩa Lập thể nhưng với một cách bố cục riêng, rồi vẽ cô tự vệ, phụ nữ lao động, cảnh vật ở di tích thời Nguyễn. Tạp chí Sông Hương ra đời, Bửu Chỉ trở thành họa sỹ minh họa và dựng trang phụ bản không thể thiếu trên tạp chí Sông Hương. Ông đã tạo ra một manchette và logo tạp chí Sông Hương độc đáo, có tính thẩm mỹ uyên thâm và sự cuốn hút thị giác mạnh mẽ. Từ sau năm 1980 đến thập kỷ 90, Bửu Chỉ vẽ nhiều về chủ đề hòa bình, thân phận con người và khá nhiều tranh ông tỏ ra là người tư duy đầy triết lý về cuộc sống và thời gian. Những khó khăn của đất nước sau chiến tranh, những cái cổ hủ vẫn còn đó, những đổi thay về tư tưởng, tình cảm bởi cơn lốc cơ chế thị trường đã làm ông luôn day dứt và tranh của ông lúc này đã phản ánh rõ điều đó. Đáng chú ý là loạt tranh thử nghiệm vẽ trên vải toan, triển lãm chung với họa sỹ Hoàng Đăng Nhuận, năm 1987, tại Hà Nội và tại Huế, năm 1989. Các triển lãm này đã làm công chúng Thủ đô và Huế ngạc nhiên bởi sự “đơn giản” của “nền” mà có được kết quả tạo hình phỏng dân gian mới lạ và có tính nghệ thuật cao. Những người mẹ với em bé, với chim câu, con người giữa vũ trụ bao la đã cho thấy một cái nhìn góc độ khác của Bửu Chỉ so với trước năm 1980. Trong đó bức Đề tặng một giấc mơ (1989) vẽ em bé và chim hòa bình và “Sự hóa thân của chim bồ câu” (1988) làm ta nhận ra Bửu Chỉ “nhuyễn” chất dân gian đằm thắm đến thế nào. Những năm 90, tranh của Bửu Chỉ bỗng có những khoảng khắc âu lo, trăn trở trước thời cuộc và những phiền muộn xót xa trước bao điều của cuộc sống cùng những ám ảnh về thời cuộc lúc này. Đó là lúc mà Bửu Chỉ như đang “...trốn thoát nào đó cái hàng ngày, bằng hội họa...” (Thái Bá Vân). Tranh của Bửu Chỉ làm người xem trầm ngâm im lặng trong sự nghĩ suy về số phận của chính mình qua loạt tranh như tĩnh vật với cái đồng hồ kim phút cong khác thường và nghiệt ngã, những khuôn mặt đối lập giữa thiện-ác, cái chết của chú hề, những thân hình gày còm treo lơ lững giữa khoảng không vô vọng như Giữa trời và đất (1988), Sự sống và cái chết (1994), Sự phi lý của cuộc sống ( 1994), Thiền (1994), Tuyệt vọng và hy vọng (1999), Thánh cũng mệt mỏi (1999), Thời gian (1998), Tôi nghĩ về đời tôi (2002)... Họa sỹ Bửu Chỉ vẽ khá nhiều về tranh tĩnh vật, có những ám thị tạo hình không giấu diếm với những bố cục vênh nghiêng, sắc màu u xám buồn bã như Tĩnh vật và cà phê đen (1991), Tĩnh vật gốm với chim bồ câu (1998), Ngựa đá và hoa (2001)... Điều mà ai cũng dễ nhận ra là tĩnh vật trong tranh của ông không mấy khi nguyên vẹn hình hài, chúng sứt mẻ, vỡ gãy hay lơ lững siêu thực một cách khó tả.

 

Bửu Chỉ, Làm xiếc, sơn dầu, 1998

 

Bửu Chỉ, Thời gian I, tổng hợp, 1993


Bửu Chỉ không ngần ngại chỉ ra những cái hèn kém, tha hóa qua những tranh đầy ẩn dụ, chẳng hạn bức tranh vẽ con chuột gặm nhấm chữ Quốc, như một cảnh báo sớm về những nguy cơ do những kẻ lạm dụng chức quyền hại dân, hại nước, điều mà sau này Đảng ta đã kiên quyết chỉnh đốn và coi đó là một trong những điều làm tổn hại đến lợi ích giai cấp, dân tộc. Đáng chú ý là bức tranh Bửu Chỉ vẽ trên tạp chí Sông Hương số 2/1991 theo kiểu tranh bút sắt gân guốc trước 1975, với cái bàn tay nối bàn chân như sự ẩn dụ phê phán cái thói của một bộ phận cán bộ công quyền tạo lập phe phái tay chân tiêu cực mà ít sử dụng đúng người tài, có trí tuệ. Lúc này các họa sỹ biếm họa miền Bắc đã có những tranh biếm họa về xã hội, có lúc còn mạnh và trực diện không kém Bửu Chỉ, tranh của họ được in trên các báo và được nhân dân hoan nghênh. Lúc bấy giờ ở Huế vẫn còn nặng về suy diễn, vì vậy bức tranh của Bửu Chỉ đã bị quy chụp theo kiểu “có vấn đề” làm cho họa sỹ cũng chịu một sự “phiền hà” nhất định trong một thời gian. Bửu Chỉ cũng phê phán thói đạo đức giả, tầng lớp trọc phú văn hóa, sự biến chất ranh mãnh của một bộ phận trong xã hội qua những tranh “Một kiểu người tri thức” với hình ảnh con khỉ ôm gối, tranh con cáo luồn cúi… Đó là những tâm trạng cô đơn không phải thoáng qua mà in dấu đậm nét tư duy, như một phản biện xã hội thời chưa có facebook đầy trí tuệ sáng tạo của ông. Họa sỹ Bửu Chỉ vẽ không nhiều về tranh khỏa thân, ông đồng thời có 2 lối vẽ tranh khỏa thân khá khác nhau, cách thứ nhất là cắt bố cục và thủ pháp tượng trưng ảnh hưởng từ họa sỹ Ý Modigliani (1884-1920) ở Khỏa thân trăng tròn (2000), Khỏa thân (2001) và Khỏa thân và trăng xanh (1997). Cách thứ 2 là vẽ nét bao hình màu theo “típ” đồ họa dân gian như ở Dâng quả (1987), Chim câu hóa thân, vì thế  mà nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân cho rằng Bửu Chỉ: “... khi quay về tư tưởng khoa học, khi quay về trí khôn dân gian” là vậy.

 

Bửu Chỉ, Con dê Quý Mùi, sơn dầu, 2002

 

Có rất nhiều điều Bửu Chỉ giãi bày làm ta day dứt, băn khoăn mãi, trong đó có một ý rằng “Nghệ thuật đứng về phía nước mắt” là dường như rất đúng với cuộc đời và nghệ thuật của ông. Cho dù như ông nói: ”… cho đến lúc tôi bước chân vào đại học, tôi vẫn chỉ là một cậu bé luôn đứng ngoài cuộc đời” nhưng kể từ khi dấn thân vào con đường tranh đấu đòi hòa bình, tự do cho dân tộc, khi đất nước hòa bình và cho đến lúc từ giã cuộc đời, họa sỹ Bửu Chỉ đã luôn đồng hành cùng dân tộc, mà bộ tranh Tiếng thét từ lòng đất  là một trong những dấu son của một thời tuổi trẻ sung sức và dũng cảm tranh đấu của ông, sau này ông vui vì đất nước hòa bình, nhân dân được tự do, nhưng với tấm lòng và tình cảm của người nghệ sỹ luôn nghĩ suy về hạnh phúc, ông vẫn day dứt với bao thân phận con người thời hậu chiến, ông chỉ ra những khổ đau còn đó, ông phiền muộn và trăn trở nhưng chưa khi nào ông bi quan, điều này thể hiện khá rõ trong bức tranh cuối cùng của ông “Con dê Quý Mùi” vẽ vào tháng 11/2002 với sắc màu tươi tắn, ngồn ngộn chất sống lạc quan,  vì vậy có thể nói nghệ thuật của Bửu Chỉ chưa bao giờ đứng ngoài thời cuộc, vì đối với ông: “Tác phẩm nghệ thuật chỉ nhằm đánh thức lương tâm, lương tri con người” .

 

P.T.B

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)