LƯỢC SỬ CÁC TRIỂN LÃM MỸ THUẬT TOÀN QUỐC VIỆT NAM - Phần 5: Lần thứ 14 năm 1995

Nguồn:

Đức Hòa 12/11/2015



14/ Triển lãm MTTQ lần thứ 14,

năm 1995, lần đầu tiên giải thưởng được chấm và công bố đúng ngày khai mạc

 Khai mạc ngày 16/12/1995 tại Khu triển lãm Vân Hồ. Đồng tổ chức: Bộ Văn hóa và Hội Mỹ thuật VN. Ban tổ chức triển lãm MTTQ 1995 gồm có 11 vị: 1/ Thứ trưởng Bộ VH-TT Nguyễn Trung Kiên - Trưởng ban, 2/ Tổng thư ký Hội Mỹ thuật VN Vũ Giáng Hương - Phó ban, 3/ Vụ trưởng Vụ Mỹ thuật Trần Việt Sơn - Phó ban thường trực, 4/ Phó tổng thư ký Hội Mỹ thuật VN Trần Khánh Chương - Ủy viên, 5/ Phó tổng thư ký Hội Mỹ thuật VN Nguyễn Thanh Châu - uỷ viên, 6/ Ủy viên BCH Hội Mỹ thuật VN Trương Bé - Ủy viên, 7/ Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật VN Nguyễn Văn Chung - Ủy viên, 8/ Viện trưởng Viện Mỹ thuật Nguyễn Tiến Cảnh - Ủy viên, 9/ Trưởng ngành Lý luận, Phê bình Hội Mỹ thuật VN Nguyễn Ngọc Dũng - Ủy viên, 10/ Vụ trưởng Vụ Tài chính Kế toán Hoàng Quỳnh Vân - Ủy viên, 11/ Giám đốc Trung tâm Triển lãm Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam Lưu Duy Dần - uỷ viên. Đặc biệt, triển lãm MTTQ 1995 đã phân ban tới 2 Hội đồng Nghệ thuật. HĐNT Hội hoạ - Đồ hoạ gồm 11 họa sỹ: 1/ Lê Thị Kim Bạch - Chủ tịch hội đồng và 10 ủy viên: 2/ Trần Huy Oánh, 3/ Vũ Duy Nghĩa, 4/ Trương Bé, 5/ Nguyễn Thanh Châu, 6/ Quách Phong, 7/ Ca Lê Thắng, 8/ Trần Lưu Hậu, 9/ Lê Anh Vân, 10/ Đinh Trọng Khang, 11/ Nguyễn Văn Chung. HĐNT Điêu khắc gồm 9 nhà điêu khắc và họa sỹ: 1/ Trần Tuy - Chủ tịch hội đồng và 8 ủy viên: 2/ Nguyễn Duy Độ, 3/ Diệp Minh Châu, 4/ Dương Đăng Cẩn, 5/ Phạm Mười, 6/ Lê Thị Kim Bạch, 7/ Trần Huy Oánh, 8/ Tạ Quang Bạo, 9/ Nguyễn Xuân Thành. Như vậy có 2 vị là LTK Bạch và TH Oánh kiêm nhiệm cả 2 hội đồng.

 

Vựng tập Triển lãm MTTQ năm 1995

 

Giấy mời dự khai mạc Triển lãm MTTQ 1995. Tư liệu gia đình họa sỹ Trọng Hợp

   

Triển lãm MTTQ 1995 bày làm 2 khu vực: 1 vẫn là khu vực chính, 1 bày trong toà nhà nhỏ hơn, có 2 tầng, ở chếch bên kia đường Hoa Lư. Theo Ban Tổ chức: có 1192 tác giả đã gửi 2697 tác phẩm đến tham dự. Vậy mà chỉ có 977 tác phẩm được HĐNT lựa chọn, tức là có tới 1720 tranh tượng đã bị loại (hơn 2/3). Điều này nói lên mức độ quyết liệt của việc chọn tranh và cũng là sự phát triển của Mỹ thuật Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi xin đính chính là có 790 (chứ không phải 789) tác giả. Có 806 tác phẩm hội họa - đồ họa và 171 tác phẩm điêu khắc. Phần hội họa và đồ họa gồm: 312 sơn dầu, 3 sơn nước, 2 acrylic, 162 sơn mài, 21 sơn khắc, 01 khắc mika, 115 lụa, 2 tempera/lụa, 01 tempera/giấy, 85 bột màu, 23 mực nho, màu nước, thuỷ mặc, giấy dó, tổng hợp trên giấy, 7 phấn màu, sáp màu, 11 hội họa tổng hợp, 45 khắc gỗ, khắc thạch cao, thủ ấn họa, 3 khắc đồng, khắc kẽm, 01 in đá, 01 in lưới trên vải, 01 dán giấy, 6 bút sắt, 4 đồ họa tổng hợp. Phần điêu khắc gồm: 68 ĐK gỗ, 4 thạch cao, 18 gốm, đất nung, 11 đá, 35 đồng, gò đồng, nhôm, 22 xi măng, bê tông, 2 điêu khắc tổng hợp, 2 đồng + xi măng, 2 gỗ + đồng, 5 composit, 01 tượng bồi lụa phủ sơn ta, 01 điêu khắc sơn mài. Như vậy là đã xuất hiện thêm khá nhiều chất liệu mới, đồng thời vắng hẳn ký họa, tranh cổ động, mỹ nghệ và số tượng thạch cao rút xuống tối thiểu để đá, gốm, đồng vượt lên.

Ban Tổ chức cũng nhận định: “Đây là giai đoạn phát triển đa dạng nhất của Mỹ thuật Việt Nam từ trước đến nay”.Bối cảnh lịch sử năm 1995 khá sáng sủa: công cuộc đổi mới - mở cửa đã tiến hành được 9 năm và đã có hiệu quả thực tiễn được 6 năm, toàn dân được no ấm, các cuộc chiến biên giới và hải đảo đã chấm dứt hoặc lắng dịu gần như hoàn toàn. Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ với cả Trung Quốc (từ 1989) và Mỹ (từ 1994), đồng thời tái nhập ASEAN (từ 1995). Đó cũng là lúc dòng khách du lịch không ngớt đổ vào nước ta… Hoàn cảnh Mỹ thuật: một tỷ lệ đáng kể các du khách đã đến xem các bảo tàng, triển lãm, gallery và mua tranh. Thậm chí đã xuất hiện cả những sinh viên Tây tại các trường Mỹ thuật ở Hà Nội, Huế hay TP HCM. Lứa họa sỹ VN đầu tiên sau đổi mới và mở cửa đi du học hay thực tập ở phương Tây cũng mới trở về (Lê Anh Vân, Sơn Trúc, Vũ Huyên, Đào Minh Tri, Lê Thừa Tiến, Bình Minh, Đức Hoà, Lê Thị Hiền…). Giá tranh hồi ấy chưa cao, nhưng các đồng ngoại tệ mạnh như đô la hay frăng đều hết sức giá trị so với đời sống vừa mới thoát nghèo của người Việt, và những họa sỹ nào bán tranh đều đều sẽ có công đưa cả gia đình họ đổi đời. Mặt khác, cũng nhờ việc bán được tranh mà họ mới dám thoả ước nguyện chơi sang như dát vàng trong sơn mài hay vẽ các loại sơn Rembrandt, Van Gogh, Lefranc Bourgeois, Lukas, Georgian… Nếu ở thời bao cấp, mọi họa sỹ đều đành phải sống đời công chức thì nay lác đác đã có những người sống thuần bằng vẽ tranh (tất cả các họa sỹ thực thụ đều mong được như vậy!). Việc triển lãm cá nhân ở các nước tư bản Âu - Mỹ hay Hồng Kông bắt đầu trở thành chuyện mà họa sỹ nào cũng có thể làm, nhất là các hội viên Hội Mỹ thuật vì thủ tục để có hộ chiếu, visa thông qua “cửa” Hội tại Hà Nội hay TP HCM đều thuận lợi nếu được mời trực tiếp từ phía bên kia. Các chủ nghĩa, trường phái trong nghệ thuật VN bắt đầu trở nên phong phú, cũng như các loại vật liệu vẽ tranh, đúc tượng ngày càng đa dạng, dù là nhập khẩu hay tự chế. Việc triển lãm cá nhân hay nhóm ở trong nước lúc này đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện” vì các thủ tục đều thông thoáng, không có những quy định quá chặt về nội dung, còn chi phí thì “dễ hiểu” với túi tiền mỗi tác giả…

Nguyễn Hải Nguyễn. Đầu ngựa, đồng, 50 x 20 cm 


Kể từ năm 1995, triển lãm MTTQ VN có những chuyển biến vượt bậc về công tác tổ chức. Chỉ cần xem cuốn vựng tập MTTQ 1995 cũng thấy rõ điều này.

Thứ nhất là, tranh tượng được in màu (dù không đủ hết). Thứ hai là, các giải thưởng được in khá trang trọng ở ngay phía trước phần danh mục ảnh tác phẩm, và do đó, nhiều khả năng là công tác chấm giải đã hoàn thành trước ngày khai mạc (đây là tiến bộ vượt bậc, chưa hề có tiền lệ trong suốt lịch sử các kỳ triển lãm MTTQ VN). Thứ ba là, tác phẩm của Hội đồng nghệ thuật không tham dự giải thưởng và được in thành 1 chuyên mục riêng (13 ảnh), sau các giải thưởng, trước danh mục ảnh tác phẩm (đây rõ ràng lại là 1 tiến bộ khác: sự minh bạch mà những người cầm cân nảy mực đáp ứng đòi hỏi cấp thiết của công luận). Thứ tư là, ngay phần mở đầu, cuốn vựng tập đã in đầy đủ các danh sách Ban Tổ chức, Hội đồng nghệ thuật, danh sách các tác phẩm đoạt giải và danh sách các tỉnh, thành có tác phẩm tham gia triển lãm (đây là việc làm khá quy củ và đáng lẽ đã phải được thực hiện từ rất lâu rồi mới đúng).Giải thưởng của triển lãm MTTQ 1995 gồm 3 loại khác nhau: Giải chính thức, Giải về đề tài cách mạng, Giải của Quỹ SIDA Thuỵ Điển.

Danh sách tác phẩm được Giải chính thức MTTQ 1995: không có Giải Nhất- Huy chương Vàng. Có 05 Giải Nhì - Huy chương Bạc (trị giá 12 triệu đồng - hồi đó 500.000đ/chỉ vàng), gồm: 1/ Tình yêu, sơn dầu của Lê Quảng Hà, 2/ Cõi nhân gian, sơn mài của Hùng Khuynh, 3/ Cây đời, tượng gỗ của Lưu Thanh Lan, 4/ Đầu ngựa, tượng đồng của Nguyễn Hải Nguyễn, 5/ Ông ké cách mệnh, sơn mài của Nguyễn Thế Vị. Có tới 20 Giải Ba - Huy chương Đồng (trị giá 10 triệu đồng) gồm: 1/ Phút cầu nguyện, giấy dó của Lê Tuấn Anh, 2/ Bắt cá, khắc gỗ của Mai Anh, 3/ Tình yêu, tượng đá của Nguyễn Phú Cường, 4/ Thu mua nông sản, sơn mài của Nguyễn Văn Chư, 5/ Bác Hồ với đại biểu dũng sỹ, tượng composit của Minh Đỉnh, 6/ Chợ Bắc Hà, sơn mài của Trần Đốc, 7/ Nămbơxat, sơn mài của Diệp Quý Hải, 8/ Bản Thái, lụa của Hoàng Minh Hằng, 9/ Cổ tích đồng quê, khắc gỗ của Nguyễn Đức Hoà, 10/ Thuyền Hạ Long, lụa của Nguyễn Quốc Huy, 11/ Xuân, sơn đắp của Trần Hùng, 12/ Cuộc sống và tình yêu, tượng gỗ của Phan Gia Hương, 13/ Bếp lửa Trường Sơn, lụa của Vũ Giáng Hương, 14/ Đất mùa hạ, sơn dầu của Trần Quốc Khánh, 15/ Họp chợ, giấy dó của Mai Đắc Linh, 16/ Mùa cá, tổng hợp của Nguyễn Ngọc Long, 17/ Hoa và quả, sơn mài của Hoàng Trầm, 18/ Theo dòng thời gian, sơn mài của Đào Minh Tri, 19/ Phong cảnh, sơn mài của Nguyễn Văn Tỵ, 20/ Cơn gió nóng, sơn dầu của Nguyễn Vinh. Có những 31 Giải Khuyến khích (trị giá 3 triệu) gồm: 1/ Việc thường ngày ở bản, sơn mài của Nguyễn Tiểu Bạch, 2/ Mùa thi, sơn mài của Nguyễn Văn Bảng, 3/ Chân dung nữ NSND Quách Thị Hồ, lụa của Nguyễn Thị Mộng Bích, 4/ Lá bàng mùa thu, khắc thạch cao của Đường Ngọc Cảnh, 5/ Chợ quê, sơn khắc của Nguyễn Nghĩa Duyện, 6/ Những cánh diều, tượng xi măng của Hoa Bích Đào, 7/ Hào khí bình Ngô, tượng đồng của Tạ Duy Đoán, 8/ Hồi ức, màu nước/giấy dó của Đặng Đức, 9/ Mẹ con, tượng sa thạch của Phạm Hồng, 10/ Chân dung họa sỹ Trần Văn Cẩn, tượng đồng của Trần Thị Hồng, 11/ Chợ phiên, sơn khắc của Bùi Hùng, 12/ Bên bếp lửa, khắc gỗ của Đào Quốc Huy, 13/ Sự hoàn thiện của thiên nhiên, tượng gốm của Lê Liên, 14/ Các cô gái, bột màu của Đinh Ý Nhi, 15/ Mầm sống, thủ ấn họa của Duy Ninh, 16/ Gảy đàn, gò đồng của Đinh Thị Thắm Pôông, 17/ Nỗi đau, tượng gỗ của Lều Thị Phương, 18/ Phật, sơn mài của Đinh Quân, 19/ Gặp gỡ, sơn mài của Vũ Văn Quý, 20/ Tượng đá của Lê Công Thành, 21/ Một thời vàng son, sơn dầu của Vi Kiến Thành, 22/ Thiếu nữ chải tóc, lụa của Trần Văn Thọ, 23/ Ngày hội non sông trên đất Tổ, sơn khắc của Nguyễn Việt Thọ, 24/ Lửa cầu nguyện, tượng gỗ của Vũ Quang Sáng, 25/ Trăng muộn, bột màu của Chu Hùng Sơn, 26/ Phố chợ vùng cao, sơn mài của Hoàng Sùng, 27/ Đường xuống chợ, sơn mài của Phạm Ngọc Sỹ, 28/ Gội đầu, gò đồng của Mai Thu Vân, 29/ Tiếng chuông gọi hồn, lụa của Lê Vấn, 30/ Vò lúa, sơn dầu của Đào Hoa Vinh, 31/ Quê ngoại, lụa của Trà Vinh.


Lê Quảng Hà. Tình yêu, sơn dầu, 93 x 110cm

 

Nguyễn Đức Hòa. Cổ tích đồng quê, khắc gỗ, 55 x 80cm

 

Loại Giải thưởng về đề tài cách mạng gồm: 1/ Tháng chạp, sơn dầu của Lê Biết, 2/ Hai Bà Trưng ra trận, lụa của Đỗ Mạnh Cương, 3/ Mẹ, sơn dầu của Phạm Đỗ Đồng, 4/ Bác Hồ về nước, sơn dầu của Mai Văn Hiến, 5/ Đường Trường Sơn, sơn mài của Bùi Tấn Hưng, 6/ Hai Bà Trưng, sơn mài của Nguyễn Thị Kim, 7/ Bất tử, tượng xi măng và đồng của Hồng Ngọc, 8/ Lính đảo, sơn dầu của Đỗ Thị Ninh, 9/ Qua suối Trường Sơn, khắc gỗ của Trần Văn Quân, 10/ Hành quân mùa mưa, khắc thạch cao của Lê Thanh Trừ. 

Loại giải thứ 3 là Giải thưởng của Quỹ hỗ trợ và phát triển văn hoá Việt Nam - Thụy Điển (SIDA) gồm: 1/ Em bé và ngựa giấy, sơn dầu của Lê Văn Duy, 2/ Tết Trung thu, lụa của Nguyễn Trọng Dũng, 3/ Thăng Long, phù điêu gỗ của Phạm Văn Định, 4/ Tương tư, khắc gỗ của Lưu Thế Hân, 5/ Tế hội, sơn mài của Lưu Quang Lâm, 6/ Múa xoè, sơn dầu của Lò An Quang, 7/ Bóng nguyệt, tượng đồng của Vân Thuyết, 8/ Ngày hội, phù điêu xi măng patin giả đồng của Vũ Tiến, 9/ Đám cưới Chăm, sơn mài của Nguyễn Minh Tuấn, 10/ Nhà thơ Nguyễn Bính, bột màu/giấy dó của Bùi Ngọc Tư.


Diệp Quý Hải. Nămbơxát, sơn mài, 70 x90cm

 

Nguyễn Thị Mộng Bích. Chân dung NSND Quách Thị Hồ, lụa 


Chúng tôi nhận thấy triển lãm MTTQ 1995 có những vấn đề đáng chú ý sau đây: Một là, Giải thưởng được chấm trước rồi công bố trong ngày khai mạc. Hai là, Hội đồng nghệ thuật không tham gia giải thưởng. Ba là, vựng tập lần đầu tiên được in màu trang trọng (dù không đủ hết và còn vài sai sót lặt vặt). Bốn là, tính chất Toàn quốc của triển lãm thể hiện rõ ở số lượng 47 tỉnh, thành có tác phẩm tham dự triển lãm. Năm là, không có Giải Nhất - Huy chương Vàng (do HĐNT quyết định). Sáu là, có tới 3 loại hình giải thưởng khác nhau và số lượng giải thưởng rất nhiều (tổng số có 76 tác phẩm đoạt giải thưởng). Bảy là, đa số các giải thưởng tập trung vào các tác giả Hà Nội và TP HCM: tất cả 5 Giải Nhì thuộc về 5 tác giả của 2 TP này; trong 20 Giải Ba, chỉ có 1 tác giả Ninh Bình, nhưng thực ra anh đã định cư và công tác ở Thủ đô được khoảng 10 năm; trong 31 Giải Khuyến khích thì 27 tác giả sống ở 2 thành phố trên, ngoại lệ chỉ có 2 Đà Nẵng, 1 Hà Tây, 1 Buôn Mê Thuột; trong 10 giải về đề tài Cách mạng thì chỉ có 1 Nam Hà và 1 Bình Định; trong 10 giải của Quỹ SIDA thì các tỉnh may mắn hơn vì đã đoạt 50% giải thưởng (1 Khánh Hoà, 1 QNĐN, 1 Sơn La, 2 Hà Bắc). Tổng số các tỉ lệ trên cho thấy Thủ đô và TP HCM là 2 nơi hành nghề Mỹ thuật tốt nhất. Phải công nhận là HĐNT đã kiên định khi chấm giải theo tiêu chuẩn chất lượng chứ không vì tính chất mặt trận mà trao giải đều cho các địa phương. Tám là, lần đầu tiên có tranh tượng khoả thân đoạt giải thưởng của triển lãm MTTQ (Đất mùa hạ, sơn dầu của Trần Quốc Khánh và Tượng đá của Lê Công Thành). Rõ ràng đây là một bước tiến cả về chất lượng tác phẩm và quan niệm của Hội đồng để giải toả những hạn chế đáng tiếc trước đó. Chín là, trong số 18 Giám khảo thì 5 người đã không có tác phẩm để bày danh dự (gồm các vị Quách Phong, Ca Lê Thắng, Trần Lưu Hậu, Diệp Minh Châu, Phạm Mười). Mười là, có tới 17 chất liệu trong số các tác phẩm đoạt giải (11 sơn dầu, 18 sơn mài, 3 sơn khắc, 1 sơn đắp, 9 lụa, 3 bột màu, 5 khắc gỗ, 2 khắc thạch cao, 1 thủ ấn họa, 5 giấy dó, 1 tranh tổng hợp, 6 ĐK đồng, 5 ĐK gỗ, 3 ĐK đá, 3 ĐK xi măng, 1 ĐK gốm, 1 ĐK composit).

Đ.H

(Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số tháng 9/2015)

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)