Xem nghệ thuật của “trường phái Hà Nội”

Vũ Lâm 19/04/2018


Mỹ thuật hiện đại Việt Nam, hình thành cùng với ngôi Trường Mỹ thuật Đông Dương thành lập năm 1925 tại Hà Nội. Nhưng mỹ thuật của riêng Hà Nội không hình thành một “trường phái mỹ thuật” rõ nét qua nhiều thập kỷ trước, như đã từng hình thành những trường phái nghệ thuật mang tên một vùng đất trung tâm như ở nhiều nơi trên thế giới. Có lẽ, triển lãm “Dưỡng Sắc” khai mạc vào những ngày cuối tháng 1, đầu năm 2018 vừa qua tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam mới định nghĩa thêm một cách tường minh cho “Trường phái Hà Nội” này.

 

Nguyễn Khắc Quân, Đất lành 2, gốm, 45x40x34 cm, 2017

 

Có thể nói triển lãm “Dưỡng Sắc” là cuộc đối thoại của hai thế hệ họa sỹ 5x và 7x. Ba họa sỹ cao niên nhất là Lương Xuân Đoàn (sinh năm 1952), Nguyễn Xuân Tiệp và Dương Ngọc Hùng (đều sinh năm 1956). Ba họa sỹ trẻ của thập kỷ 7x là Nguyễn Xuân Long (1974), Vũ Hồng Nguyên (1976) và Trần Mạnh Hùng (1977). Cân bằng giữa hai “đầu đòn gánh” hội họa của hai thế hệ này là các tác phẩm điêu khắc gốm của nghệ sỹ điêu khắc Nguyễn Khắc Quân (1962). Ngoài chuyện tuổi tác, hội họa và điêu khắc, còn có một cặp đối thoại nữa là sự trò chuyện nghệ thuật giữa các nghệ sỹ bảo tàng và các nghệ sỹ tự do khác (một nửa số tác giả, các ông Nguyễn Xuân Tiệp, Nguyễn Khắc Quân, Trần Mạnh Hùng đã và đang làm việc tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam).

 

Vũ Hồng Nguyên, Sự xâm lấn số 9, acrylic trên toan, 80 x 120cm, 2012


Lý do tôi cho rằng triển lãm “Dưỡng Sắc” này định nghĩa rõ nét thêm cho tính chất nghệ thuật của “trường phái Hà Nội” là bởi hai họa sỹ có thâm niên sáng tác nhất, Lương Xuân Đoàn và Nguyễn Xuân Tiệp đều là người Hà Nội, họ sinh ra trong gia đình nghệ thuật nòi, và cái “chất thị thành” lãng mạn có âm hưởng sâu sắc trong sáng tác của họ. Cha của họa sỹ Nguyễn Xuân Tiệp là nhạc sỹ tiền chiến nổi tiếng Nguyễn Đình Phúc; và họa sỹ Đông Dương nổi tiếng Lương Xuân Nhị, là bác ruột của họa sỹ Lương Xuân Đoàn. Hai họa sỹ Lương Xuân Đoàn và Nguyễn Xuân Tiệp đều là các họa sỹ trụ cột của nghệ thuật thời Đổi mới. Các sáng tác của hai ông: Tháng bảy, Tháng tám và Sáng Thế Kỷ (Lương Xuân Đoàn) hay Miền ký ức 1, 2, 3 (Lương Xuân Tiệp) dù vẽ đen trắng hay mầu dầu, đều đậm chất hoài cảm, lãng mạn, mơ mộng tột cùng trong ám ảnh tín ngưỡng riêng của các tác giả. Xem tranh của họ, thoảng như nghe tiếng lời nhạc của bài hát Thành Thị (nhạc sỹ trẻ Nguyễn Duy Hùng): “Về lại con phố ấy, có người thương/… Thành thị loang khói ba- ngỡ màn sương, giăng phủ xa mờ/ Có những mùa đông lạnh, mà nghe sao ấm áp/ Có những niềm vui giản dị nồi cơm than ấm mẹ chờ, tiếng bước chân cha về từ chiến trường...”

 

Trần Mạnh Hùng, Chốn nhân gian số 3,màu nước trên giấy dó, 69,5 x 80 cm, 2017


Nhưng các tác phẩm thuộc loại lạ nhất trong triển lãm, lại là các sáng tác của họa sỹ Dương Ngọc Hùng. Mê mỹ thuật từ nhỏ, tuổi thiếu niên, ông đã cuốc bộ từ Đan Phượng (Hà Tây cũ) lên Hà Nội để dự thi vào khóa Trung cấp của trường Yết Kiêu, hay gọi nôm na là khóa “thiếu sinh quân mỹ thuật”. Sau năm thứ hai học trung cấp, ông đã vượt lên dẫn đầu lớp, ngang ngửa không kém gì các bạn bè con nhà nòi nghệ thuật khác cùng khóa. Tiếp tục học và tốt nghiệp đại học năm 1986, ông về công tác tại Báo Nhân Dân, và làm việc họa sỹ trình bày báo ở đây cho đến khi nghỉ hưu. Chính vì cống hiến toàn bộ thời gian tuổi trẻ cho sự nghiệp báo chí, nên khi đang là viên chức, ông chưa có nhiều sáng tác nổi bật. Phải tận đến khi nghỉ hưu, với những đột biến trong tuổi tác và thân phận, họa sỹ mới dành toàn bộ tâm huyết còn lại cho sự nghiệp hội họa. Các sáng tác mới nhất của ông trộn giữa tình cảm đạo và đời, những thánh nữ, tiểu thiên thần có cánh lơ lửng trong những không gian hoang đường, vừa thanh khiết, nhưng cũng phô bày, gợi cảm một cách thao thức mãnh liệt.

 

Lương Xuân Đoàn, Sáng thế kỷ,sơn dầu trên toan, 97 x 121cm, 1987


Cùng tìm về những nguồn mạch văn hóa cổ của cha ông để chuyển tải hơi thở đương đại trên giấy dó, nhưng hai họa sỹ Nguyễn Xuân Long và Trần Mạnh Hùng lại có cách khơi nguồn khác nhau. Tranh của Nguyễn Xuân Long nhìn qua phảng phất tinh thần của tờ sắc phong, hay bùa chú, bởi những hoa văn cổ được họa sỹ vẽ lên dầy đặc. Nhưng nếu nhìn kỹ, thì dưới những hoa văn đó, lại có những hình vẽ sinh thực khí với ẩn ức khá bạo liệt. Họa sỹ Trần Mạnh Hùng thì vẽ những “điệu múa cổ”, nhưng không phải kiểu “điệu múa cổ” của Nguyễn Tư Nghiêm, mà là những “điệu múa cổ” kỳ ảo và mỵ hoặc của riêng anh. Đối lập với những sáng tác của hai đồng nghiệp 7x, là các bức trừu tượng về đời sống và môi trường đất nước vẽ bằng acrylic loang chảy của Vũ Hồng Nguyên. Chốt hạ, và đem lại “sức nặng” ba chiều cho triển lãm là loạt tượng gốm đàn bà vô cùng phồn thực và khỏe khoắn của điêu khắc gia Nguyễn Khắc Quân…

 

Nguyễn Xuân Long, Phật thấu hiểu,màu nước trên giấy dó, 70 x 120 cm, 2017


“Dưỡng sắc cũng là dưỡng tâm, cứ thuận mệnh mà đi…” là câu nói của họa sỹ Lương Xuân Đoàn trong lời giới thiệu. Riêng tôi muốn thêm, rằng việc “dưỡng sắc” này là việc các nghệ sỹ chốn Thủ đô làm đậm chất nữa cho tâm hồn Hà Nội bằng mỹ thuật (nghệ thuật thẩm mỹ). Cái nghệ thuật “kiểu Hà thành” này không tạo nên sự cách tân gì quá ghê gớm, nhưng tha thiết ôi là tha thiết, và rất mực tinh tế từ nhiều thế hệ, xuyên qua các cuộc chiến và sự thất đảm đã qua của dân tộc…         

 

V.L

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)