Người du kích Nam Bộ trong ảnh Nguyễn Đặng

Chu Chí Thành 29/05/2019


Những năm trước, chúng ta quan tâm nhiều đến nhiếp ảnh chiến trường. Hình ảnh người chiến sỹ, người thanh niên xung phong trên tiền tuyến giữa bom đạn, khói lửa mịt mùng, hiện trường đổ nát, tan hoang, những khoảnh khắc phi thường của người lính nói lên tinh thần lạc quan chiến đấu, dũng cảm hy sinh v.v... là tâm điểm thu hút sự chú ý của báo chí và bạn đọc. Ảnh có nội dung như vậy thường nhận được sự tán thưởng của Hội đồng các cấp xét duyệt Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước. Từ những nguyên tắc chung mang tính định hướng tới những tiêu chí  cụ thể đã giúp chúng ta tìm ra các tác phẩm ảnh có giá trị, khẳng định những đóng góp đích thực của Nhiếp ảnh chiến tranh cách mạng. Tuy nhiên mảng đề tài về hậu phương thời chiến  thì chưa được khai thác mấy, và chưa được xem xét phù hợp với thực tế.

 

Người du kích "Công binh" tỉnh An Giang, 1970


Theo  cách gọi chung trong thời chiến, người ta  phân định  rằng: Miền Bắc là hậu phương, Miền Nam là tiền tuyến, đến khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra Miền Bắc, thì cục diện chiến tranh đã thay đổi, lúc ấy Miền Nam là tiền tuyến lớn, Miền Bắc là hậu phương lớn, tức là hai Miền vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương. Tuy nhiên hậu phương ở Miền Nam phức tạp hơn, ác liệt hơn ở Miền Bắc nhiều. Bởi lẽ những nơi đó tiếp giáp với vùng địch chiếm, nằm trong tầm phi pháo của địch, và nhiều nơi bị quân địch tấn công, chà sát.

Nguyễn Đặng là phóng viên ảnh được Thông tấn xã Giải phóng phân công lấy tài liệu về lĩnh vực này ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Các hoạt động của Bộ đội địa phương, Dân quân, Du kích, Thanh niên xung phong v.v... là đối tượng thể hiện của anh. Như chúng ta biết, mọi hoạt động của lực lượng vũ trang này là âm thầm, kín đáo, đặc biệt ở vùng giáp ranh lại càng phải giữ bí mật. Vì vậy trên thực tế rất ít gặp cảnh du kích chiến đấu đơn độc, rất ít gặp cảnh luyện tập chống càn đông đúc, hay các cuộc hội quân tấp nập. Trừ khi có những trận đánh địch được phối hợp với quân chủ lực thì lực lượng du kích mới chính thức  sung trận. Nhưng trước sau trận đánh vẫn không được bộc lộ lực lượng và cơ sở. Đấy là những khó khăn cho các nhà nhiếp ảnh đi theo đội quân này. 

 

Nữ du kích Đồng Tháp Mười , 1968

 

Tải đạn ra chiến trường, (Đông xuân 1973-1974)


Mặc dù vậy, suốt 8, 9 năm bám trụ ở vùng địch hậu, Nguyễn Đặng đã chụp được hàng nghìn kiểu ảnh gửi về trụ sở Thông tấn xã Giải phóng ở Tây Ninh, từ đây phòng biên tập ảnh biên soạn lại, rồi gửi theo đường giao liên ra Phân xã Nhiếp ảnh Việt Nam ở Hà Nội. Tại Thủ đô, ảnh của Nguyễn Đặng cũng như ảnh của các phóng viên  khác trong Nam mới được phát hành cho báo chí trong nước và nước ngoài. Hành trình một bức ảnh từ Nam Bộ ra tới Hà Nội trung bình mất hàng tháng trời. Như vậy tính thời sự, cập nhật - một yêu cầu quan trọng của ảnh báo chí đã bị mất. Nhưng bù lại là tính chất tài liệu, tính chất lịch sử, tính chất nghệ thuật của bức ảnh thì còn mãi mãi. Đây là một ưu việt của nhiếp ảnh, nó giúp tác phẩm ảnh vượt qua ranh giới thời gian, và sẽ đi cùng năm tháng, nó trường tồn với lịch sử đất nước.  Nhờ vậy mà ảnh của Nguyễn Đặng và ảnh của các nhà nhiếp ảnh chiến tranh vẫn giữ được giá trị độc đáo của nó, và  vẫn đem đến cho người xem ngày nay những cảm xúc đẹp, những nhận thức đúng đắn về cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, thống nhất non sông. Ảnh Nguyễn Đặng cho ta thấy bà má Nam Bộ móm mém thản nhiên ngồi dưới gốc dừa vót chông rào làng, các chị, các em gặt lúa, thu khoai, các bác nông dân gom súng đạn lên xuồng tải ra tiền tuyến cho bộ đội, các chiến sỹ du kích chỉ có quần xà lỏn (quần đùi) với cây súng trường, súng phóng lựu, hoặc súng chống tăng B.40 v.v... lăn lộn trong chiến hào quyết tâm đánh địch đến cùng.

Quả thực, Nguyễn Đặng cũng như các nhà nhiếp ảnh chiến tranh Việt Nam thời chống Mỹ và chống quân xâm lược biên giới, không ai nghĩ mình ra trận chụp ảnh để làm nghệ thuật, mà lúc đó chỉ một lòng một dạ ghi lại sự thật làm bằng chứng cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta, biểu dương khí phách anh hùng của dân tộc ta. Đơn giản vậy, và chính mục đích đơn giản ấy đã khiến Nguyễn Đặng chụp được nhiều ảnh giá trị. Thời gian càng lùi sâu vào dĩ vãng, thì những bức ảnh chân thực, mộc mạc gắn liền với lịch sử đất nước càng ngời sáng.

 

Đi công tác qua vùng địch kiểm soát, 1971


Nguyễn Đặng là một thanh niên nông thôn, quê ở  An Giang, ra Bắc tập kết năm 1954, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội. Anh mơ ước khi đất nước thống nhất được bước lên bục giảng làm người thầy cho các em học sinh ở quê hương mình. Nhưng do yêu cầu công tác, Ban Thống nhất Trung ương đã điều anh làm công tác báo chí. Anh được đào tạo nghiệp vụ báo chí khóa ngắn ngày một năm do Việt Nam Thông tấn xã mở. Chương tình nhiếp ảnh có 3 tháng, nhưng chính từ đây, Nguyễn Đặng đã bén duyên với Nhiếp ảnh, và anh đã chung sống với nó suốt đời. Sau ngày giải phóng Miền Nam, anh công tác tại Báo Sài Gòn Giải Phóng, và là một trong những thành viên sáng lập Hội Nhiếp ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều năm làm Phó Chủ tịch, Chủ tịch Hội Nhiếp ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, và Phó Chủ tịch Hội NSNAVN. Anh cùng Nghệ sỹ Nhiếp ảnh Lâm Tấn Tài khởi xướng Liên hoan ảnh các tỉnh, và Khu vực phía Nam, mở đường cho Liên hoan ảnh các tỉnh và khu vực trong toàn quốc của Hội NSNAVN.

Xem lại các tấm ảnh chiến tranh của anh, chúng ta vừa mến mộ, vừa cảm phục một tay máy xông xáo rất yêu nghề, và sâu thẳm trong anh là tình yêu quê hương đất nước. Với tình yêu ấy, anh đã thành công tạo dựng được hình tượng người du kích Nam Bộ trong nhiếp ảnh. Anh hồn nhiên cởi mở, ảnh của anh cũng phóng khoáng sôi động như con người anh.

 

C.C.T (Số 4, tháng 4/2019)

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)