Ván khắc Quan Âm Đồng Tử đồ chùa Thiên Đức

Ngô Đức Chí 03/12/2019


Lai lịch và mô tả

Trong quá trình điều tra điền dã về cổ tịch Phật giáo chúng tôi có may mắn được tiếp cận mộc bản Quan Âm Đồng Tử, hiện được lưu trữ tại từ đường tộc Đinh1, Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là mộc bản khá đặc biệt vì ít phổ biến và giá trị mỹ thuật, độ chi tiết cao của nó trong kho mộc bản Phật giáo hiện còn của Việt Nam.

 

Ván khắc Quan Âm Đồng Tử Đồ, chùa Thiên Đức


Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, mộc bản “Quan Âm Đồng Tử đồ” chùa Thiên Đức là một chỉnh thể đồ họa được san khắc, đính ghép bởi nhiều ván nhưng tình trạng ván khắc hiện không nguyên vẹn, đã bị khuyết mất tối thiểu một ván. Tuy vậy, chất lượng của các ván còn lại tương đối tốt, đồ hình hiển thị khá sắc nét sau khi được in ấn. Và điều may mắn là hai ván quan trọng - trung tâm của bức tranh hiện vẫn còn. Ngoài bức tranh được khắc trên ván, không có văn tự nào được khắc thêm, cũng như không có văn bản nào nói về xuất xứ và quá trình tàng bản của mộc bản này. Do đó, chúng tôi không có cơ sở để khảo sát về lịch sử khắc bản cũng như truyền bản.

Bức tranh Quan Âm Đồng Tử được khắc âm bản trên gỗ, mộc bản gồm ba tấm2 xếp theo chiều ngang, thứ tự từ trên xuống; ván đầu tiên từ phần đầu của Quan Âm đến đến hết ngực, ván thứ hai tiếp theo ván thứ nhất cho đến vai của Đồng Tử nam, và ván thứ ba là phần cuối, đáng tiếc, ván thứ ba đã thất tán. Các ván được nối ghép với nhau bằng phần khớp nối đoạn tiếp giáp của các ván và được gia cố thêm hai thanh dọc mặt sau, hai thanh dọc này có chất gỗ mới lại được đóng thêm đinh thép mới nên có thể được gia cố sau này. Mộc bản có kích thước tổng thể: cao 130cm x rộng 40cm x dày 4cm.

Giá trị mỹ thuật của văn bản

Với quá trình hình thành và phát triển của kỹ thuật in khắc mộc bản tại Trung Hoa, kỹ thuật này lan truyền đến nhiều nước ở Châu Á, đặc biệt là trong khối các nước sử dụng văn tự Hán - Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Với vai trò là chất xúc tác của quá trình hình thành kỹ thuật in khắc mộc bản, cũng như vai trò là đối tượng tiếp thu, sử dụng kỹ thuật này, Phật giáo đã sớm sử dụng kỹ thuật này phục vụ khắc in hệ thống kinh điển của mình nhằm nhân bản và lưu hành rộng rãi kinh điển.

Ngoài văn tự, hội họa cũng được đưa vào in khắc với một số công năng khác nhau: công năng thờ cúng, trang trí kinh sách, trang trí không gian thờ tự… các nhân vật trong Phật giáo được hình ảnh hóa thông qua và ngòi bút của họa sỹ, từ bản vẽ đó một lần nữa thông qua đao pháp của thợ khắc để có âm bản trên gỗ và cuối cùng là sản phẩm sau quá trình in ấn thủ công trên giấy. Mộc bản Quan Âm Đồng Tử được chúng tôi tìm hiểu trong bài viết này nằm trong hệ thống mỹ thuật điêu khắc mộc bản được nhắc đến ở trên. Đồ hình được khắc lên một bộ ván gồm ba tấm, lối khắc dương văn, sau khi in ấn các đường nét tạo hình trên mặt ván sẽ ngậm mực và hiển thị lên giấy, phần gỗ bị loại bỏ không có mực sẽ không hiển thị và để lại màu trắng làm nền cho các đường nét nổi lên tạo hình. Đây là phương pháp điêu khắc phổ biến trong loại hình tranh khắc gỗ. Thủ pháp bạch miêu, lấy đường nét để mô tả, các nét to nhỏ thay đổi tùy theo các bộ phận, và ý đồ của tác giả. Bức tranh gồm ba nhân vật; Quan Âm, Đồng Tử nam và Đồng Tử nữ đồng thời, để tăng thêm không gian của bức tranh, có thêm một số đồ vật được đưa vào bức tranh, như bồ đoàn, bình gốm, kinh sách và cuốn thư. Lấy nguyên tắc trung tâm trong hội họa Trung Hoa làm chủ, Quan Âm là nhân vật trung tâm trên bức tranh và nổi bật nhất, mặt chính diện, ngồi xếp bằng, tay trái đặt lên tay phải trong tư thế đang lần tràng hạt, đầu đội mũ thượng phẩm, mặc áo giao lĩnh, ngoài có áo choàng vắt qua vai, cổ và ngực được trang trí bằng chuỗi anh lạc (dây đeo) hết sức tinh tế. Hình tượng Quan Âm được tạo hình chỉnh tề, nghiêm nghị, thoát tục mà có nét gần gũi, từ bi. Không gian từ sau lưng được để trắng càng tăng thêm vị trí trung tâm cho nhân vật chính trong tác phẩm.

Độ gần xa của đồ hình lấy từ cạnh dưới, các nét ở cạnh dưới của bức tranh là các nét gần nhất, làm tăng thêm bố cục dưới nặng trên nhẹ của tác phẩm. Từ đó, lần lượt các nét khác được chồng chéo, liên tiếp tạo hình làm tăng thêm không gian chiều sâu của bức tranh. Hai Đồng Tử được sắp xếp về bên trái Quan Âm, lần tượt từ ngoài vào trong: Đồng Tử nam nhìn từ sau lưng mặt ngoảnh sang trái, hay tay chắp vái, mắt nhìn góc chéo ra ngoài,  tóc một chỏm đào; Đồng Tử nữ sau đồng từ nam, mặt chính diện hơi nghiêng và khom người, mặc áo giao lĩnh,  tóc bối, tay cầm bình cam lồ, mắt hướng nhìn xuống bình cam lồ.

 

Chi tiết bản in nét chân dung Quan Âm


Với mức độ mô tả chi tiết về hình họa và đao pháp thành thục biến hóa linh hoạt cho ta một tác phẩm rất sinh động. Các ý thức về không gian gần xa tuy bị hạn chế trong loại hình sử dụng đường nét làm chủ đạo nhưng cũng đã có dụng ý biểu đạt, động thái các búi tóc của Quan Âm, chuỗi dây anh lạc và tư thế, góc nhìn của ba nhân vật trong bức tranh càng làm tăng thêm sự sinh động của bức tranh trên nền đen trắng. Các đường nét tạo hình phần lớn là đường nhỏ, mảnh, cong được tăng thêm sự mạnh mẽ bằng các đường nét uốn gấp trên trang phục, dải áo với đường nét to hơn, mạnh hơn; bình gốm trên tay Đồng Tử nữ và chồng kinh sách dưới cùng bên phải Quan Âm được tạo hình bằng lối hoa văn Băng Mai, các đường nét gãy gấp, khúc chiết làm chủ đạo. Đây là loại hoa văn kinh điển trên các loại hình nghệ thuật khác nhau, hoa văn này bắt đầu được sáng tác và phát triển mạnh mẽ từ thời Khang Hy, dựa trên nền tảng các hình băng tác trên các đồ quan diêu thời Tống. Giữa các hình băng được đan cài theo hình thức kỷ hà ngẫu nhiên là các bông hoa mai, kết cấu giản đơn nhưng biến động vừa mang đặc trưng của thời đại, cũng mang tính chất đặc trưng của hoa mai để biểu hiện sự cao khiết của chủ nhân.

Quan Âm Đồng Tử là một bức tranh được sử dụng với mục đích thờ tự, không gian của bức tranh không bị hạn định bởi các đường cạnh như các bức tranh trang trí trong kinh điển. Theo một số thông tin chúng tôi có được thông qua phỏng vấn một số Phật tử ở địa phương, bức tranh này thường được các vợ chồng hiếm muộn thỉnh từ chùa về phụng thờ trong gia đình với niềm tin sẽ sớm có con (?).

 

Một vài nhận định

Rõ ràng như chúng ta thấy, mộc bản Quan Âm Đồng Tử thể hiện đặc trưng thể hiện đặc trưng kỹ thuật chạm khắc, phong cách tạo hình của Trung Hoa. Với tư lệu quá ít ỏi chúng tôi không có điều kiện để đánh giá về mặt văn bản học của mộc bản này. Tuy vậy, từ góc độ tạo hình, phục trang, kỹ thuật khắc ván, và các tư liệu hiện có về quá trình tạo dựng thảo am Phổ Tuyền (1733) sau này là Chùa Thiên Đức (1758) và bây giờ là từ đường tộc Đinh, chúng tôi cũng mạnh dạn đưa mộc bản này vào khung niên đại thuộc thời các chúa Nguyễn. Ván khắc có thể được mang sang Đàng Trong từ Trung Hoa, hoặc được khắc lại dựa trên một bản in có sẵn. Chúng tôi nghiêng về trường hợp ván được mang sang từ Trung Hoa nhiều hơn, vì lý do khi chồng xếp các ván khắc nhân vật, họa tiết ở Đàng Trong như ván Hồng danh bửu sám nghi thức ở chùa Phước Lâm, Hội An, ván Chư Phật hải hội ở chùa Vạn Đức, Hội An, ván A Di Đà đại tượng và Thủy Nguyệt Quan Âm ở chùa Thập Tháp, Bình Định… để đối chiếu thì ván Quan Âm Đồng Tử có mức độ chi tiết và phức tạp hơn nhiều, những ván khắc còn lại có độ chi tiết thấp hơn, khả năng dựng hình yếu hơn, thậm chí nhiều ván hình họa xô lệch, mang màu sắc tạo hình dân gian.

 

Bản in Quan Âm Đồng Tử Đồ, chùa Thiên Đức


 Tranh khắc gỗ là một dòng mỹ thuật đặc biệt, tác phẩm sau khi được khắc cố định âm bản sẽ được in ấn lên giấy Gió hoặc giấy Xuyến Chỉ, tuy vậy, thông qua quá trình in ấn, độ đậm nhạt, chất liệu giấy, chất liệu mực, phương pháp in và tính chất in ấn sẽ cho ra các tác phẩm khác nhau về sắc độ trên một âm bản chung, đó là tính chất in ấn của dòng tranh đặc biệt này.

Với những giá trị về mặt mỹ thuật của nó, chúng tôi nhận thấy cần giới thiệu đến quý độc giả, hầu mong có những manh mối, những kiến giải mới về tư liệu này. Bên cạnh đó, việc bảo tồn những gì còn lại của hiện vật là hết sức cần thiết. Qúa trình ấn loát cũng cần được thực hành một cách chuyên nghiệp hạn chế những tác nhân xấu đẩy nhanh quá trình xuống cấp của ván khắc.

Để hoàn thiện được bài viết này chúng tôi có tham khảo một số tư liệu và nhận được sự đóng góp, bổ sung ý kiến quý báu của Thích Đồng Dưỡng, Nguyễn Hữu Sử, Thích Không Nhiên, nhân đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý vị.

 

N.Đ.C (số 8, tháng 8/2019)

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)