Yếu tố mật tông trong tranh thờ thiền sư Nguyễn Minh không ở đền Thánh Nguyễn

Trần Hậu Yên Thế 03/12/2019


Nguyễn Minh Không là một thiền sư thời Lý và có nhiều công tích kỳ bí, cho nên chân dung vẽ ông hẳn nhiên cũng có những điều lạ kỳ. Bài viết này không phải là sự trình bày kết quả giám định mà đúng hơn là bản tường trình những suy đoán và nêu ra những vấn đề  để tiếp tục nghiên cứu về chân dung các cao tăng nói riêng và nghệ thuật tiếu tượng Việt Nam nói chung. Hiện ở ngồi đền này, ngoài pho tượng thờ, nhà đền còn lưu giữ hai bức họa vẽ thiền sư Nguyễn Minh Không. Bức vẽ trên lụa là họa cổ nhất và cũng là bức đẹp nhất.

Mặc dù bức tranh đặt ra rất nhiều vần đề nghiên cứu, nhưng trong bài viết này, do dung lượng có hạn, xin được tập trung vào yếu tố Mật tông trong bức họa thiền sư Nguyễn Minh Không ở ngôi đền này. Theo lời các vị cao niên và cụ từ ở đền Nguyễn khi đưa cho chúng tôi xem hai bức tranh, thì bức tranh lụa là bức cổ, còn bức tranh trên giấy là bức vẽ sau đó. Cũng có ý kiến đây là vẽ trên giấy là bức vẽ chép lại bức tranh lụa.

 

Tranh trong khám thờ đền Thánh Nguyễn  (nguồn: Nguyễn Văn Thuật)


Về lại lịch thiền sư Nguyễn Minh Không

Tổng hợp từ những tư liệu chính sử và dân gian, văn bản và truyền miệng, có thể khái quát những nét cơ bản sau đây.

Cuộc đời chứa đựng nhiều điều kỳ bí của thiền sư Nguyễn Minh Không, cùng với thiền sư Từ Đạo Hạnh là hai thiền sư thời Lý được nhắc nhiều nhất trong sách Đại Việt sử ký toàn thư. Kế thừa quan điểm của một số học giả tiền bối như Đặng Xuân Bảng, Phạm Đức Duật, người viết cho rằng Không Lộ và Minh Không là hai thiền sư thời Lý khác nhau. Giống như một thỏi nam châm mà trọng lượng bản thân luôn nhỏ hơn trọng lượng thực tế do lực hút lớn từ tính; hình ảnh thiền sư Nguyễn Minh Không còn là sản phẩm sáng tạo dân gian qua 1000 năm nay. Các bức tranh, bức tượng về thiền sư Nguyễn Minh Không đều là những sáng tạo đời sau phản ánh sự kính ngưỡng của hậu thế với vị cao tăng đời Lý.

 

Chân dung các vị cao tăng

Phật giáo có truyền thống tiếu tượng của các vị cao tăng từ rất sớm. Phật giáo từ rất sớm nhận thấy ích lợi của việc giáo hóa các tín đồ, hoằng dương Phật pháp thông hành vi chiêm bái các ảnh tượng. Đó cũng là lý do khiến di sản tranh chân dung các vị cao tăng Phật giáo đồ sộ hơn bất cứ tôn giáo nào trên thế giới.

Quyển “ Tự tháp ký” thượng ký có ghi trong ở chùa An Quốc tự phường Trường Lạc tại Trường An có “ thiền sư Pháp Không ảnh đường”. Trong các Phật động ở Mạc Cao, Đôn Hoàng, các nhà nghiên cứu Trung Hoa đã xác định được chân dung của một số cao tăng như Huyền Trang và Hồng Biện. Đông Tấn cao tăng Huệ Viễn trong “ Phật ảnh minh” có nói đến những điều như “ thể thần nhân hóa, lạc ảnh di hình” hay “ phảng phất kính thần nghi, y hi nhược chân ngộ” ( ý rằng thấy chân dung thể hiện được thần thái dung nghi như bức gương phản ánh được sự chân ngộ hiếm có) [Zheng Yan-2004]. Phật giáo Trung Hoa rất nổi tiếng với những bộ tranh khắc gỗ Tây thiên nhị thập bát tổ(西天二十八祖), Thiền tông lịch đại tổ sư cao tăng họa tượng (禅宗历代祖师高僧画像) đã khắc họa chân dung các vị tổ sư, cao tăng từ Phật Thích Ca, Ma-ha-ca-diếp, A-nan-đà, Thương-na-hòa-tu, Bà-tu-mật, Long Thụ, La-hầu-la-đa, … Bồ-đề-đạt-ma.

 

Trích đoạn rồng năm móng trên trang phục Thánh Nguyễn (nguồn: Nguyễn Văn Thuật)

 

Chân dung bà Bùi Thị Minh Nhẫn - Bảo tàng  Mỹ thuật Việt Nam (nguồn: sưu tầm)


Hội họa Phật giáo Tây Tạng với hai hệ thống chính là bích họa và tranh Thangka vô cùng đồ sộ đã lưu lại rất hệ thống chân dung các vị Latma. Những bức chân dung đậm đặc yếu tố Mật tông đã có ảnh hưởng lớn tới nghệ thuật tiếu tượng của Trung Hoa và các nước khác trong khu vực.

Ở Việt Nam, việc thờ phụng các vị cao tăng chủ yếu lập bia và đúc tượng. Việt Nam có nhiều làng nghề nổi tiếng làm tượng mà ít làng nổi tiếng về vẽ tranh. Và những làng tranh như Đông Hồ, Kim Hoàng, Hàn Trống cũng ít vẽ về đề tài Phật giáo.  Tranh thờ các vị công hầu khanh tướng, các mệnh phụ hiện cũng không nhiều, mà tranh thờ các vị hòa thượng còn hiếm hơn nữa. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam còn lưu giữ một số bức. Chân dung phu nhân Minh Nhẫn (Thái Bình). Bà Minh Nhẫn tên thật là Bùi Thị Giác, sinh năm 1738, mất năm 1805. Bức tranh được thực hiện năm 1804, trước khi bà mất một năm. Đây là bức cổ họa có niên đại tuyệt đối. Tranh hiện trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Tranh thờ danh thần Phùng Khắc Khoan. Chân dung vẽ với góc nhìn chính diện nhân vật. Tranh thờ danh thần Nguyễn Quý Đức(1648-1720) tại đền thờ dòng họ Nguyễn Quý. Chân dung vẽ với góc nhìn chính diện nhân vật. Tranh chân dung Tả thái tử Kiến Trung hầu Thông chương đại phu Trịnh Đình Kiên (1715 - 1786), vẽ trên lụa. Theo nghiên cứu của PGS.TS Trang Thanh Hiền, bức họa quận công Vũ Công Chấn (tại từ đường họ Vũ tại thôn An Cự, xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) được xem là bức tranh thờ hiện còn sớm nhất. Họa pháp của các bức họa chân dung này cơ bản vẫn mang kiểu thức và thủ pháp Trung Hoa.

Tại đền Thánh Nguyễn hiện có hai bức tranh vẽ thiền sư Nguyễn Minh Không. Điểm chung của hai bức tranh là hình ảnh một vị hòa thượng đang ngồi thiền định, cổ đeo tràng hạt, ngồi trên sập. Bức tranh trên lụa có niên đại sớm hơn, có thể được vẽ vào thời Lê - Trịnh, bức vẽ trên giấy mang phong cách thời Nguyễn. Bức họa ở đền Thánh Nguyễn có phong cách, thủ pháp nghệ thuật của Mật tông hoàn toàn khác với những bức họa kể trên.

 

Yếu tố Mật tông và kỹ thuật tranh Thangka Tây Tạng trong tranh đức thành Nguyễn

Mật tông bắt nguồn từ một pháp môn Phật giáo Ấn Độ sau đó truyền sang Trung Hoa, Tây Tạng, Miến Điện. Ảnh hưởng của Mật tông thời Bắc thuộc ở Giao Châu tiếp tục phát triển trong thời Đinh và Tiền Lê của Đại Việt. Việc sùng bái tính nữ và tính chất bí hiểm là một trong những bức họa thangka Tây Tạng. Thangka có nguồn gốc từ Ấn Độ và phát triển,ở Tây Tạng, từ lối sống du mục của các tu sỹ Phật giáo thời kỳ đầu. Những nhà sư đi hoằng dương Phật pháp ra các khu vực xa xôi. Mọi thứ họ cần thiết và được sử dụng đi trên lưng của các hòa thượng, bao gồm lều, đồ nội thất, và những bức tranh.

 

Tranh thờ thiền sư Nguyễn Minh Không ở đền Thánh Nguyễn (nguồn: Hoàng Anh Đức)  

 

Tranh thiền sư ở Đôn Hoàng(TQ)-Sưu tập Bảo tàng Anh (nguồn: sưu tầm)


Sùng bái tính nữ (Shakti) là một truyền thống đến từ Ấn Độ giáo. Phật giáo Tây Tạng coi tính nữ là cội nguồn của sức mạnh và trí tuệ, là thế lực tâm linh bí ẩn. Quan niệm này dẫn đến việc thể hiện đức Phật, Bồ tát cũng như các vị Lạt Ma thường có khuôn mặt vuông vức những mũi thanh tú, đôi môi mỏng, nhỏ và đỏ như tô son. Một thủ pháp nghệ thuật nữa cũng chỉ thấy ở tranh thangka là sử dụng rất nhiều vàng lá thếp lên tranh để diễn tả trang phục vô cùng lộng lẫy. Đối chiếu những yếu tố Mật giáo này với bức tranh lụa ở đền Thánh Nguyễn ta cũng thấy khá rõ. Như đã trình bày ở trên, căn cứ vào sử sách và những giai thoại dân gian, thiền sư Nguyễn Minh Không là người có sức khỏe phi phàm, tính tình quyết đoán, ắt hẳn phải có nhiều chất nam tính trên dung mạo. Bức tranh trên giấy vẽ đức Thánh ở đền Nguyễn mô tả ông đúng như vậy: vai vuông, đầu vuông, tóc không cạo trọc, để râu mép. Ngược lại, bức vẽ lụa, mô tả dung mạo ôn hòa, khiêm cung, vai xuôi, mặt tròn, mày cong nhỏ mảnh, môi nhỏ đỏ tươi. Đặc biệt là đôi mắt vô cùng trìu mến. Về kỹ thuật sử dụng vàng lá trên bức tranh lụa này cũng độc nhất vô nhị. Vàng được thếp trên trang phục khá phức tạp, có chỗ là ve áo, tràng hạt. Nhưng có chỗ lại là đầu rồng. Cũng như cách xử lý thường thấy ở Tây Tạng, sau khi thếp vàng lên, những đường nét hoa văn lại được vẽ tiếp lên trên. Trình độ công bút của bức tranh thiền sư khá điêu luyện. Vì để vẽ được trên vàng, màu vẽ phải rất đặc biệt, có thể là sơn ta hoặc một loại keo thực vật. Chất liệu này để đi được những nét mảnh nhỏ không đơn giản.

 

Tượng thờ thiền sư Nguyễn Minh Không ở đền Thánh Nguyễn (nguồn:Lê Thái Dũng)


Yếu tố Mật tông trong bức họa Lý Quốc Sư này phù hợp với bối cảnh Phật giáo thời Lý, đặc biệt đúng với hành trạng của thiền sư Minh Không rất đậm chất Mật tông. Mặc dù hình rồng trên áo là đồ án rồng thời Lê - Trịnh nhưng rồng ở đây là rồng 5 móng. Như chúng ta đã biết, rồng 5 móng liên quan đến hoàng đế và hoàng gia, quan lại và thường dân không dùng đồ án này. Rồng trên cột đá chùa Dạm (Thần Quang tự) là rồng 5 móng vì đây là đại danh lam thời Lý là ngôi quốc tự hàng đầu liên quan tới hoàng gia. (Kể từ Lê Sơ về sau, tuyệt đại đa số rồng ở chùa tháp người Việt chỉ là rồng 4 móng.) Việc khoác cho vị đại sư này một tấm áo rồng năm móng, người nghệ sỹ xưa muốn ngầm chỉ đây là vị quốc sư danh tiếng bậc nhất thời Lý, là người đã từng cứu sống vua Lý Thần Tông.

 

Phật Di Lặc trên Thangka Tây Tạng  

 

Tạm kết

Giám định bức tranh vẽ một nhân vật tu hành mặc trang phục có hoa văn thời Lê -Trịnh là tranh vẽ vị quốc sư thời Lý là nhiệm vụ rất khó khăn. Tranh không có dòng minh văn nào ghi danh hiệu Lý Quốc sư  Minh Không. Tuy nhiên dựa vào những tư liệu phỏng vấn tại đền Thánh Nguyễn, căn cứ vào yếu tố Mật tông trong bức họa này cho ta phỏng đoán vị cao tăng trong tranh chính là thiền sư Nguyễn Minh Không. Công tác giám định có ý nghĩa không chỉ trong lĩnh vực thị trường nghệ thuật, mà với nghiên cứu lịch sử văn hóa dân tộc cũng hết sức quan trọng. Bức tranh lụa ở đền Thánh Nguyễn là một tư liệu hết sức giá trị góp phần không nhỏ trong công tác nghiên cứu thân thế sự nghiệp thiền sư Nguyễn Minh Không và Phật giáo thời Lý.            

 

T.H.Y.T (số 8, tháng 8/2019)

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)