HÌNH THỂ, KHÔNG GIAN VÀ CÁI NHÌN [Bước đầu học vẽ và trình bày tạo hình] - CHƯƠNG 3. HÌNH: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CƠ BẢN Tiếp theo số 3 (tháng 3 năm 2016)

Tác giả: GRAHAM COLLIER Biên dịch: Vương Tử Lâm Hiệu đính: Phạm Long 13/05/2016


PHẦN một. DẤU VẾT VÀ KHÔNG GIAN: NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VỀ HÌNH - NỀN

CHƯƠNG 3. HÌNH: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CƠ BẢNTiếp theo số 3 (tháng 3 năm 2016)


II. Mảng khối:

Cấu trúc của Khối đặc và Khối rỗngKHỐI ĐẶCHệ vật thể thứ hai khiến ta quan tâm hoàn toàn khác với các hình thể khung xương mà chúng ta vừa mới bàn tới. Sự cố kết cấu trúc của những vật có hình khung xương là tương đối dễ xác định: ta có thể nhận thấy các nhánh rẽ tới đâu, nối với nhau thế nào, và bối cảnh không gian của chúng có hình dạng gì. Dù sao, những vật thể với bề mặt có xu hướng nở rộng - thay vì mảnh dẻ - thì không thể nói là “có nhánh” được. Thí dụ, củ hành ở H3-42 không có khung xương, và do đó, thuộc về hệ vật thể thứ hai: nhóm mảng khối. Cấu tạo của những vật thể có mảng khối không hình thành từ các nhánh nối kết hoặc rẽ tách, và vì vậy, cả cấu trúc lẫn hình dạng bối cảnh không gian của chúng được khớp nối một cách kém rõ ràng. Không dễ để lĩnh hội các nguyên lý cấu trúc - cái xác định nên hình dạng của củ hành, cũng chẳng dễ quyết định làm thế nào để bộc lộ những đặc điểm như thế trong một hình vẽ. Việc này không khó với một cành cây con.


H3-41 (hình minh họa bài tháng 3)

 

H3-42


Tuy nhiên, đừng quên rằng mọi vật trên đời đều có mảng khối - ngay cả một cành cây con mảnh mai nhất cũng sẽ bộc lộ mảng khối nếu nó bị cắt ngang qua và phô bày thiết diện, mặc dù vẻ ngoại hiện của nó chủ yếu mang tính chất đường nét và khung xương. Ngược lại, không phải mọi vật thể có mảng khối đều có yếu tố khung xương. Vậy, đâu là điểm thiết yếu cho phép phân chia các vật thể thành hai hệ [mảng khối và khung xương] nếu về cơ bản tất cả chúng đều có mảng khối? Đây cũng là lý do mà người vẽ luôn quan tâm tới đặc điểm tự nhiên nổi bật nhất của đối tượng/vật thể? Như trước đây chúng ta đã đề cập, nếu bạn giữ sợi tóc trong lòng bàn tay, bạn sẽ không quan tâm tới sự mở rộng bề mặt trong mảng khối của nó. Ý nghĩ bao trùm của bạn lúc đó sẽ là độ dài và sự vận động đường nét có định hướng của nó. Vì vậy, sự phân chia các vật thể thành hai hệ hình thái là dựa trên nhận thức của chúng ta về vóc dáng riêng biệt của những vật thể được quan sát - dù chúng có tính chất mảnh-mai-khung-xương hay vạm-vỡ-mảng-khối.Sự hoán đổi các khoảng đặc và rỗng của các vật thể không có khung xương đã làm nên đặc điểm cơ bản của chúng, nhất là lối triển khai các bề mặt phẳng và cong. Trong thực tế,  chính sự dịch chuyển và lan ra của những diện tích bề mặt lớn hơn là cái gây ấn tượng trước hết đối với tri giác. Nếu quan sát sự mở rộng mảng khối bề mặt như mô tả ở H3-43, bạn sẽ nhận thấy cảm giác về mảng khối lớn hơn hoặc bé hơn tùy thuộc vào sự mở rộng tương đối của diện tích bề mặt phô ra, và tùy thuộc vào mức độ liên tục của sự trôi chảy trên bề mặt. Những đặc điểm này tương phản với các vật thể khung xương; bởi vậy, để mô tả mảng khối, cần phải tìm cách xây dựng sự lan ra của bề mặt - thay vì chỉ vẽ đường viền hoặc phần mép. Như vậy, ở mục này, chúng ta sẽ tìm cách vẽ các bề mặt như thế, và bằng cách ấy tìm ra một biện pháp tạo hình để định dạng và cũng để cấu trúc nên mảng khối và hình khối. Hầu hết các nghệ sỹ đều không thích những hệ thống và phương pháp mang tính gợi ý “cách làm như thế nào” cũng như không thích bàn luận về những đề xuất chuẩn bị được đưa ra, cho nên ở đây chúng ta không nên cố gắng thực hiện điều này.


H3-43

 

H3-44


Thay vào đó, chúng ta sẽ trình bày một hệ thống tạo hình cho phép người vẽ mài rũa sự sắc bén tri giác đối với hệ vật thể, qua đó, có thể phát huy được khả năng suy tưởng của mình.Một cách khá tự nhiên, hệ thống tạo hình mà chúng ta dựa vào để vẽ hoặc cấu trúc nên mảng khối lại nảy sinh từ nhận thức về những vật thể thuộc loại này được đúc kết từ sự quan sát của chúng ta - chủ yếu là “đọc” bề mặt hơn là phần rìa của vật thể. Khi thực hiện điều này, việc lĩnh hội đầy đủ độ lớn ba chiều trong khi quan sát được trợ giúp theo hai cách. Cách thứ nhất là qua bất cứ một sự lồi hoặc lõm nào có tính chất đường nét do các khe hay rãnh bám theo dòng lưu thông trên bề mặt tạo nên, như trong H3-43. Những cách cấu tạo có tính đường nét này di chuyển trên khắp [bề mặt] vật thể, vạch ra những đường cong và mặt phẳng của mảng khối. Khi chạy vòng quanh và chạy xuống bên dưới hình thể, chúng sẽ gợi ra sự hiện diện của phần khuất, làm tăng thêm sự cảm nhận về mối liên kết ba chiều của vật thể (hãy lưu ý sự ghi dấu của đường nét trong vỏ củ hành tây ở H3-42 có tác dụng ra sao). Cách thứ hai là thông qua sự thay đổi về sắc độ tại những chỗ có mảng sáng và bóng tối di chuyển trên khắp bề mặt vật thể, hỗ trợ cho tri giác cảm nhận rõ hơn về [tính chất] mảng khối. Những chỗ bắt sáng và bóng tối chuyển động trên bề mặt mảnh thủy tinh bị nấu chảy ở H3-44 là một thí dụ điển hình cho điều này. Ở đây không có đường nét trợ giúp cho việc quan sát - mà chỉ có sự chuyển động của sáng và tối cho ta biết về các bề mặt phẳng và cong nhô ra phía trước hay lùi lại đằng sau, nhờ thế, tạo nên cảm nhận về mảng khối của mảnh thủy tinh.Vận dụng đường nét cùng các sắc thái từ đậm sang nhạt khi vẽ một vật thể có mảng khối là rất khả thi. Một nét liên tục mô tả đặc tính mở rộng của bề mặt góc cạnh hay uốn cong, nét ấy có vẻ hiện ra trong tầm mắt, đi ra từ một bên rồi khuất vào phía bên kia, có thể định hình cho mảng khối.


H3-45


Chúng ta gọi một nét như vậy là nét định hướng bề mặt liền mạch. Sáng và tối - độ sáng để phản ánh những phần ở gần người quan sát hơn, bóng tối biểu thị những phần ở dưới, bên cạnh, hoặc ở xa hơn - cũng định hình cho mảng khối. Ta gọi sự kết hợp các sắc độ tạo hình như thế là sắc thái định hướng bề mặt liền mạch.Bạn có thể sử dụng hai kỹ thuật này riêng rẽ hoặc phối hợp cùng nhau. Henry Moore đã vận dụng cả nét định hướng bề mặt lẫn sắc thái định hướng bề mặt trong bức Four Gray Sleepers (H3-45): Kết quả là gợi tả được độ lớn và trọng lượng của những hình tượng này! Những đường nét này di chuyển hầu như không hề gián đoạn bên trên và xung quanh các bề mặt, mô tả liền mạch toàn bộ mảng khối. Ở nơi chúng đan khít vào nhau, chúng tạo thành những sắc thái đậm trong bóng tối, khiến cho bề mặt [có vẻ] lùi sâu dần vào không gian ba chiều. Trái lại, sắc sáng lại lấp lánh trên những bề mặt đẩy về phía trước. Kỹ thuật được Moore sử dụng ở H3-45 hỗ trợ nhận thức về mảng khối giống hệt như sự trợ giúp thị giác bởi những đường nét và khe rãnh của tác phẩm điêu khắc cùng những chỗ hắt sáng và bóng tối lung linh trên miếng thủy tinh nấu chảy. Để có một thí dụ cho thấy chỉ riêng sáng và tối trên bề mặt cũng bộc lộ được sự vững vàng của hình thể như thế nào, hãy xem lại bức vẽ màu nước Đào tơ của Rodin (H1-53). Không có nét định hướng nào trên bề mặt gây bất lợi cho những hình khối mượt mà và chắc chắn của dáng người đang ngồi này. Mặc dầu các sắc độ sáng và tối của Rodin không đi tới cực điểm như ta thấy ở những bề mặt phản chiếu mạnh của mảnh thủy tinh (H3-44), các sắc thái màu nước [trong Hình 1-53] mờ hơn và kém tương phản hơn lại có chiều hướng nở ra trên bề mặt của thân thể người và cũng có tác dụng tăng cường sự cảm nhận của chúng ta về mảng khối.Như đã trình bày, những thực tiễn tạo hình này sẽ ăn sâu vào kinh nghiệm thị giác của chúng ta về những vật thể thực sự có mảng khối. Vì cái nhìn [của mắt ta] sẽ bám theo những manh mối thị giác qua những dấu vết đường nét, vạch ra khuynh hướng của bề mặt, cùng với những chỗ bắt sáng và bóng tối, nên chúng ta tưởng tượng ra đường đi của những manh mối này ngay cả khi chúng đã thoát khỏi tầm nhìn.

Cũng có khi các đầu ngón tay của chúng ta có thể bị cuốn vào sự đồng cảm, dường như thực sự “cảm thấy” khoảng rộng ba chiều của bề mặt, mặc dầu ta chỉ đang quan sát chăm chú mà không cảm nhận. Xúc giác kết nối mạnh mẽ với thị giác khi mảng khối được nhấn mạnh theo cách đó.Trong thực tế, cả hai cách “vẽ nổi khối” như đã mô tả trên đây đều có chung một đặc tính quan trọng: giúp các họa sỹ có phản ứng qua xúc giác đối với tính chất vững chắc của mảng khối, khiến họ có thể “cảm giác được” trong đầu về độ nặng và hình khối, và do đó, truyền đạt được dáng vẻ [sự vật] đáng tin cậy hơn trong bức vẽ của họ.


H3-46


 
KHỐI RỖNG

Tính tới thời điểm này, chúng ta đã mô tả mảng khối như là khoảng mở rộng của các bề mặt hữu hình, với tính chất đặc chắc và độ nặng tương ứng kèm theo. Thuật ngữ “khối” nói chung được sử dụng để biểu thị những đặc điểm này của mảng khối.Tuy nhiên, khối cũng có thể ám chỉ đến những vùng không gian theo một ý nghĩa phổ quát: tới tính chất rộng lớn đa chiều của nó. Ghi nhớ như vậy, chúng ta cũng sẽ sử dụng thuật ngữ này khi muốn nhắc tới [đặc tính] không gian, nhưng cụ thể hơn rất nhiều. Tôi muốn sử dụng cách diễn đạt “khối rỗng” là để nhận biết những vùng không gian đặc biệt ấy, những cái có thể hiện diện trong một vật thể có mảng khối - khoảng rỗng, cái được các bề mặt bao quanh định hình nên một cách xác thực, và vì thế, trở thành một hình khối bên trong - một cái hốc - nếu bạn muốn gọi như vậy. Vì lý do đó, kể từ đây, chúng ta phải thận trọng khi phân biệt các khối đặc hay khối rỗng.Thí dụ, chúng ta nhận thấy hòn đá cuội ở H3-46 là một vật thể có mảng khối bị khoét rỗng bởi ba lỗ thủng. Trong khi khảo sát các hốc lỗ, chúng ta có xu hướng tự động phán đoán dung tích của chúng - hình dạng và khối lượng của khối không gian được chứa. Sự hiện diện của những khối rỗng như thế - dù bản thân chúng tồn tại với tư cách một hiện thực tri giác - cũng cho phép chúng ta nhìn thấy bên trong và xuyên qua phần khối đặc của vật cụ thể, vì thế mang lại thông tin thị giác trực tiếp về phạm vi và sự liên kết mảng khối của nó. Những khối rỗng, bộ phận không thể thiếu của một vật thể hoặc hình dáng người, có thể có tác dụng về mặt nhận thức nhờ tác dụng phụ trợ làm nối bật thêm đặc tính rắn đặc của chất liệu, qua đó bộc lộ kích thước và tính chất mảng khối của nó.


H3-47


Đồng thời, những khối rỗng cũng có thể có tác dụng về mặt thẩm mỹ với tư cách là những “hình dạng không gian” tự thân.Vậy câu hỏi đặt ra là: về mặt tạo hình, chúng ta làm sao để có thể cấu trúc nên khối rỗng? Và câu trả lời là: nhờ vận dụng nét định hướng bề mặt liền mạch và sắc thái định hướng bề mặt liền mạch - giống như hai phương pháp chúng ta đã áp dụng để miêu tả khối đặc.Hãy xem xét các ý tưởng điêu khắc của Henry Moore, Những dáng người nằm nghiêng (H3-47), chúng ta thấy rằng ông cấu trúc nên cả phần hốc lỗ lẫn phần đặc, khối rỗng và khối đặc trong cùng một vật thể. Để đạt được điều này, Moore đã sử dụng cả đường nét lẫn sắc độ mô tả bề mặt nhằm định dạng các khía cạnh lõm và lồi của các hình khối đặc và rỗng để tạo nên các khoang hay lỗ thủng. Từ những hình vẽ này, có thể thấy rõ rằng nếu không có sự tương phản giữa phần sáng với chỗ tối sâu, và nếu không có đường nét mô tả bề mặt liên tục bằng cách lượn quanh các thành của khoang rỗng, có lẽ sẽ chẳng nhận thấy rõ được phần hốc lỗ cũng như phần đặc. Tất nhiên, chỉ riêng đường nét mô tả bề mặt liên tục cũng có thể lột tả được những chỗ nhô ra hay thụt vào, nhưng sự thêm sắc thái sáng và tối vào cũng là một sự trợ giúp quan trọng đối với tri giác.Bây giờ, hãy nghiên cứu bức ảnh chụp một hình thể gỗ lũa gần như bị biến dạng hoàn toàn của Andreas Feininger (H3-48), và quan sát xem những thớ gỗ - với vai trò tạo hình gần giống với một nét định hướng bề mặt liền mạch - đã tạo nên cái hốc như thế nào khi phác họa ra các gờ của khoang rỗng. Ngoài ra, để ý đến tác động của ánh sáng - chói ngời trên những đường gờ nhô ra và tối lại khi độ sâu của cái hốc tăng lên - cũng giúp tăng cường cho cảm nhận của tri giác về khoảng trống. Sự miêu tả tạo hình của vật thể này có lẽ tuân theo những gì mắt thấy trong một bức ảnh - cả về đường nét lẫn sắc thái của hình ảnh.Nếu so sánh bức ảnh chụp này với những hình vẽ Những dáng người nằm nghiêng của Henry Moore, bạn sẽ thấy nhà điêu khắc đang sử dụng một kỹ thuật tạo hình trung thành với kinh nghiệm tri giác thông thường. Nét định hướng bề mặt liền mạch phác họa theo lối tạo hình những thành vách trong các khoang rỗng điêu khắc, do đó, cấu trúc nên các chiều bên trong của chúng, trong khi sáng và tối có tác dụng gợi ra: tính chất ở phía trước và sự lùi lại phía sau; cái hốc càng sáng thì càng nông, còn khi nó tối hơn thì có vẻ thụt vào sâu hơn.

Trong những khối đặc, các sắc thái sáng và tối cũng có tác dụng như vậy: đặc tính sáng gợi tả những phần nhô về phía trước của một vật thể hay hình dáng người; đặc tính tối thể hiện những phần nằm xa nguồn sáng hơn. Hãy để ý xem quy tắc này đã được hoạ sỹ khai thác ra sao trong Những dáng người nằm nghiêng. Khi hoạ sỹ muốn một cái hốc xuyên thủng qua phía bên kia - trong dáng người nằm thấp nhất ở hình minh họa - có thể nói người xem sẽ nhận thấy “ánh sáng ở cuối đường hầm”. Tuy nhiên, phần khoang ngực rỗng của dáng người là một cái hốc mà rốt cuộc ta lại bắt gặp bóng tối - thay vì ánh sáng - và do đó, khiến cho khoảng rỗng sâu hơn - ít nhất cũng là thoạt nhìn.Trong Chương 2, tôi đã lưu ý các bạn về yếu tố tâm lý trong hoạt động nhận thức tri giác, về sự khó khăn trong [khi áp dụng] những quy tắc mặc định để làm sáng tỏ nhận thức thị giác. Tùy thuộc rất nhiều vào bối cảnh gặp gỡ và tích luỹ kinh nghiệm thị giác trong quá khứ, nhưng nói chung, khi quan sát các vật thể hoặc hình dáng người, những sắc độ tối khiến chúng ta đều liên tưởng tới những cái ở phía xa hay nằm bên dưới, cách xa nguồn sáng; điều này giúp ta nhận ra cả đặc tính rắn đặc ba chiều lẫn độ sâu của khoảng trống. Ngoài ra, và gần như là một hệ quả tốt đẹp, các sắc tối góp phần nhấn mạnh thêm ấn tượng về một hình ảnh, bởi chúng ta thường gắn bóng tối với những thứ còn ẩn giấu; trong khi tự bản thân độ nặng lại có ý nghĩa diễn cảm. Ngược lại, những chỗ phát sáng mạnh khiến chúng ta nghĩ tới các vị trí gần, do bề mặt lồi ra - chứ không phải bề mặt lõm vào - được chiếu sáng rực lên, và vì thế, có vẻ ở sát gần đúng như quy luật tự nhiên. (Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhớ rằng trong những tình huống tạo hình thuần túy, khi đề cập tới sự tiến lên phía trước hay lùi lại đằng sau, chính sự tương phản mới là yếu tố đóng vai trò quan trọng.

Trong trường hợp đó, một sắc sáng mạnh hoặc một độ tối mạnh sẽ có tác dụng nếu nó đủ “no”, và vì vậy, tạo nên độ tương phản mạnh với sắc thái chung của bối cảnh).Quay trở lại với vật thể đặc ở H3-47 việc đánh giá độ sâu của cái hốc nằm giữa khối đá không hề dễ chút nào. Lý trí mách bảo chúng ta rằng chắc nó không phải là một hố sâu như cái hốc nằm dưới cùng mà ta có thể nhìn xuyên qua. Song, như đã đề cập trước đây, bóng tối gợi ra sự hiện diện của những khu vực mà ánh sáng không thể chiếu tới - vì thế, hẳn chỗ tối phải là nơi “ở bên trong”, “ở dưới”, hoặc “ở đằng sau”.Tóm lại, để mô tả cấu trúc của khối rỗng (cũng như khối đặc) một cách thuyết phục, có các biện pháp tạo hình sau:1. Nét định hướng bề mặt liền mạch, một tiến trình khá đơn giản, một mặt mô tả sát sao các diện phẳng và mặt cong bên ngoài của mảng khối, và mặt khác là những khối không gian (rỗng) bên trong nó.2. Sắc thái định hướng bề mặt liền mạch, một tiến trình phức tạp và mơ hồ hơn, sử dụng sáng - tối nhằm định dạng hình thể bên ngoài của mảng khối dưới dạng các bộ phận ở gần và xa, và tạo ra các khoang nông hoặc sâu nhờ những khối rỗng của nó.


(Còn tiếp)

(Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số tháng 4/2016)

ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)