Klimt Người đi trước thời đại

Hàm Phong 30/07/2018


Đối với cộng đồng nghệ thuật ngày hôm nay, những bức tranh lộng lẫy của danh họa người Áo Gustav Klimt luôn dành được sự ái mộ và kính trọng; hơn nữa, thế giới người đẹp trong các tác phẩm lung linh và sang trọng của ông luôn quyến rũ và đặc biệt gợi tình, đó là điều không thể phủ nhận. Là một nghệ sỹ đi trước thời đại, ông được giới sử gia nghệ thuật đánh giá là một trong những họa sỹ trang trí vĩ đại nhất của thế kỷ XX, có tác phẩm nghệ thuật được xem là trữ tình và quan trọng nhất trong lịch sử nghệ thuật thế giới.

 

Gustav Klimt (1862-1918)


Gustav Klimt sinh ngày 14 tháng 7 năm 1862 ở Baumgarten, vùng ngoại ô của Vienna, (lúc đó thuộc đế chế Áo-Hungary). Ông là người con thứ hai trong một gia đình có bảy anh chị em. Cả cha mẹ ông đều là những nghệ sỹ thực thụ: mẹ ông là nhà soạn nhạc, còn cha là thợ kim hoàn lành nghề. Tất cả các anh chị em của ông đều thể hiện năng khiếu nghệ thuật từ khi còn rất nhỏ.

Học vẽ và kiến ​​trúc tại Trường Mỹ nghệ thực hành Vienna từ năm 1876 đến 1883, ông sớm trải nghiệm cảnh túng bấn của những học trò nghèo khi gia đình không còn dư giả. Do đó, khi ra trường, ông bắt tay ngay vào việc mưu sinh với những công việc khá khiêm tốn: vẽ tranh nội thất của các tòa nhà công cộng. Tuy nhiên, với tài năng thiên phú, ngay từ buổi đầu vào nghề, ông đã cho ra đời hàng loạt tác phẩm đáng chú ý, trong đó có loạt tranh minh họa cho cuốn sách “Allegorien und Embleme” (Biểu tượng và huy hiệu). 

 

Gustav Klimt (1862-1918)

 

Gustav Klimt, Nhà hát cổ đại Taormina, 1886-87. Tranh trang trí trần nhà tại nhà hát hoàng gia Burgtheater ở Vienna, Áo.


Klimt đã thành công rất sớm khi vẽ những bức tranh trang trí lộng lẫy theo truyền thống hùng vĩ của bậc thầy Hans Makart (1840-1884). Chính Klimt là người đã hoàn tất công việc trang trí cầu thang ở Viện Bảo tàng Lịch sử Nghệ thuật Vienna trong tình trạng dở dang khi Makart mất vào năm 1884. Trong công trình này và nhiều công trình khác, Klimt và người em trai Ernst Klimt (1864-1892), cũng là một họa sỹ, đã hợp tác với Franz Matsch (1861-1942), một người bạn cùng học với hai anh em ông ở trường Mỹ nghệ thực hành Vienna. Dù thành công sớm, Klimt vẫn bị nghệ thuật tiền phong hấp dẫn, và ông đã nhanh chóng đi theo xu hướng Nghệ thuật Ấn tượng, Chủ nghĩa Tượng trưng và Trào lưu Tân nghệ thuật (Art Nouveau).

Năm 1897, bất mãn với quan điểm bảo thủ của Hội Nghệ sỹ Vienna, ông và một số bạn bè đã rời khỏi hội này, lập ra một tổ chức mới lấy tên là Nhóm Ly khai Vienna (Wiener Sezession), và ông được bầu làm Chủ tịch.

Vai trò lãnh tụ nghệ thuật tiền phong Áo của Klimt đã được xác nhận khi ông thiết kế và thể hiện những bức tranh tường đầy chất phúng dụ trong hơn ba năm (1990-1993) cho đại sảnh đường của Trường Đại học Vienna. Những tác phẩm này ngay khi mới thành hình đã bị giới phê bình và cả các học giả của đại học Viên chỉ trích với nhiều ác cảm. Chúng bị coi là ‘có nhiều nội dung phi lý, và tệ hơn nữa, còn mang tính khiêu dâm’. Klimt rất bất bình, phẫn nộ, rồi bỏ dở công trình vào năm 1905 (đến năm 1945, các tác phẩm này bị phá huỷ trong vụ hoả hoạn xảy ra khi quân đội Đức quốc xã rút khỏi thành Vienna). Từ đó về sau, ông không bao giờ nhận các hợp đồng của nhà nước nữa, chỉ vẽ theo các yêu cầu của tư nhân, song dù thế nào, kể cả ở các tranh chân dung, ông vẫn tiếp tục say mê các chủ đề giàu chất thần thoại và phúng dụ.

 

Khảo họa Die Medizin (Y khoa) được Klimt vẽ bằng chất liệu sơn dầu trong khoảng thời gian 1897-1898, là phác thảo cho một trong 3 bức tranh khổng lồ Triết học, Y khoa, Pháp luật dự kiến thể hiện trên trần đại sảnh đường trường Đại học Vienna theo hợp đồng uỷ thác của Bộ Văn hoá và Giáo dục Áo ký năm 1894. Hiện nay bức khảo họa này thuộc sưu tập của Bảo tàng Israel ở Jerusalem.


Sống kín đáo và khiêm nhường, song cá tính của Klimt dường như lại không khác mấy so với những nhân vật nổi loạn, tràn trề sinh lực và đam mê tình ái trong các bức tranh của mình. Ông chưa bao giờ vẽ chân dung tự họa cho chính mình, và thường chỉ khoác trên người một chiếc áo bằng vải thô giản dị, đi dép lê và bên trong không mặc gì. Ông làm việc từ ngày này sang ngày khác không biết mệt, dành phần lớn quỹ thời gian và tâm huyết cho những tác phẩm công phu.

Nói về mình, ông rất thẳng thắn: “tôi chẳng để lại pho sách hoặc lời hay ý đẹp nào, càng không có gì để tụng ca cá nhân hoặc tác phẩm của mình. Ai muốn hiểu về tôi với vai trò của một nghệ sỹ, thì việc cần thiết duy nhất là nên xem kỹ các tác phẩm của tôi và hãy tìm thử trong những bức tranh đó tôi là ai và tôi muốn gì”.

Gustav Klimt có lẽ được biết đến nhiều nhất nhờ những thành công rực rỡ của Thời kỳ Vàng - là giai đoạn ông sử dụng rất nhiều vật liệu vàng lá trong sáng tác. Giai đoạn này chắc chắn ông chịu ảnh hưởng từ người cha, một thợ chạm khắc kim loại lành nghề, cũng như cảm hứng từ nền nghệ thuật Byzantine rực rỡ vàng son với nhiều dấu ấn còn lưu lại ở Venice và Ravenna của nước Ý mà ông đã nhiều lần viếng thăm. Đây cũng là thời kỳ ông cho ra đời kiệt tác nổi tiếng nhất của mình, bức Nụ hôn (1907-1909). Sự đam mê của ông đối với các sản phẩm mạ vàng là một trong những lý do khiến tác phẩm của ông nổi bật so với những người đương thời. Khó ai có thể cưỡng lại được sức hấp dẫn của những bức tranh lấp lánh ánh vàng của Klimt cộng thêm với lối hoà sắc cực kỳ tươi sáng.

 

Những người bạn, 1916. Sơn dầu. Bị phá huỷ năm 1945 khi Đức quốc xã chiếm đóng Áo

 

Klimt cũng là nhà vô địch về tranh biểu hình giàu tính gợi cảm với những gương mặt và thân hình quyến rũ của phái nữ (ngoại trừ những tác phẩm đầu tiên ông được đặt hàng vẽ chân dung cho những gia đình thượng lưu). Càng về sau, ông càng đặc biệt thích vẽ vẻ đẹp của phụ nữ, nhấn mạnh tới sức cám dỗ và sự bí ẩn của phái yếu. Đam mê tình ái, song những mối quan hệ riêng tư của ông luôn được giữ kín, do đó, khác với nhiều văn nghệ sỹ châu Âu thời bấy giờ, Klimt đã không bị vướng vào những vụ bê bối cá nhân ồn ào. Ngược lại, trong hội họa, Klimt không hề ngần ngại thể hiện thẳng thắn chủ đề ái tình cùng những xung động bản năng trong các tác phẩm ma mị đầy hấp lực.

 

Du khách tham quan Bảo tàng Belvedere ở Vienna, Áo, thường dừng lại lâu nhất trước bức tranh Nụ hôn (1907-1909) của Klimt


Là người nỗ lực đưa tính dục (sexuality) vào các không gian nghệ thuật công cộng, dù rất nhiều lần bị khước từ và thất bại, ông đã có nhiều ảnh hưởng tới các thế hệ họa sỹ. Cả Egon Schiele (1890-1918) và Oskar Kokoschka (1886-1980) - những họa sỹ nổi tiếng người Áo thuộc thế hệ sau, cũng thường vẽ những bức tranh có liên quan tới chủ đề tính dục - luôn coi Klimt là tấm gương sáng và ngọn hải đăng soi rọi con đường nghệ thuật của mình.

 

Chân dung Adele Bloch-Bauer I (1907). Sơn dầu, vàng lá. Sưu tập cá nhân


Mặc dù thực sự chưa bao giờ đặt chân tới nước Nhật, rõ ràng hội họa Nhật Bản đã có ảnh hưởng rất lớn trong nhiều tác phẩm của Klimt, nhất là trong bức “Máu cá” (1898). Trong bức tranh này, ông sử dụng lối nhìn viễn cận và sự tương phản của các mảng sẫm với những khoảng trống không gian rất phổ biến trong tranh Nhật Bản. Cách thể hiện nhân vật và lối bố cục trong tranh Klimt cũng cho thấy cái nhìn siêu hình của ông về cuộc đời “nổi trôi bất tận”. Những mái tóc dài buông xoã trên những tấm thân thanh khiết tựa như những dòng nước chảy mãi, miên man, không ngừng.

 

Gustav Klimt, Rắn nước II (1904)

 

Máu cá, 1897-1898. Mực và phấn. Sưu tập cá nhân


Các tác phẩm của Klimt luôn thấm đẫm chất thơ, phảng phất vẻ mơ màng, bảng lảng - những phẩm chất bắt nguồn từ chủ nghĩa Tượng trưng. Chi tiết trong tranh ông vừa mơ hồ, lại quyến rũ, do đó kích thích rất mạnh trí tưởng tượng của người xem.

Gustav Klimt qua đời tại Vienna vào ngày 6 tháng 2 năm 1918, do bị đột quỵ, để lại rất nhiều tác phẩm vẫn chưa hoàn thành. Ngày nay, các bức tranh của Klimt luôn là niềm tự hào của bất kỳ bộ sưu tập cá nhân hay bảo tàng nghệ thuật danh tiếng nào trên thế giới.

Trên các sàn đấu giá quốc tế, các tác phẩm tuyệt đẹp và hiếm hoi của Klimt luôn thu hút sự quan tâm của giới sưu tập toàn cầu, và luôn đạt những kỷ lục đáng kinh ngạc về giá, trong đó có một số bức được xếp vào hàng đắt nhất thế giới, ví dụ như bức “Chân dung Adele Bloch-Bauer I” (1907) đã được nữ doanh nhân tỉ phú Oprah Winfrey bán cho một người sưu tập Trung Quốc vào ngày 19 tháng 6 năm 2006 với số tiền thu về 135 triệu USD, còn bức “Rắn nước II” (1904) vốn thuộc bộ sưu tập của tỷ phú người Nga Dmitry Rybolovlev khi bán ra thị trường vào tháng 11 năm 2015, và cũng về tay một sưu tập gia châu Á, đã thu về 170 triệu USD.

Trong năm 2018 này, trên toàn thế giới có rất nhiều sự kiện văn hoá tưởng nhớ Gustav  Klimt - người đã để lại cả một kho báu di sản nghệ thuật cho nhân loại, liệu giới mỹ thuật Việt Nam có hoạt động gì hưởng ứng không? Hồi hộp và mong đợi!.

 

H.P

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)