Linh hồn của Nhiếp ảnh kỹ thuật số

Nguyễn Thành 07/10/2014


Nghệ thuật nhiếp ảnh dường như vẫn là một ẩn số với chúng ta. Hai yếu tố mà nhiếp ảnh phụ thuộc là tư duy và công nghệ. Công nghệ biến đổi, hiển nhiên nhiếp ảnh cũng phải đổi thay. Nhưng nhiếp ảnh lại là nghệ thuật của sự im lặng, nó không thách thức ai và cũng chẳng bao giờ đàm phán. Giải mã điều này thật khó, nhưng cũng vì thế mà nghệ thuật nhiếp ảnh luôn hấp dẫn và bí ẩn.
Người ta có thể hình dung một cô gái câm điếc muốn nói nhưng không thành tiếng. Chỉ có hai bàn tay chụm lại tạo hình mái nhà để trước ngực, đó là ước vọng một mái ấm; Bàn tay mở ra ngang phía trước, đó là ngôn ngữ của lời tạ ơn. Rồi tiếng mưa rơi, âm hưởng của tiếng cười, sự sâu lắng của nỗi buồn và niềm hạnh phúc, tất cả đều vô thanh, được diễn tả bằng đôi bàn tay ngọ ngoậy trong im lặng. Nhưng từ sự im lặng ấy đem lại “linh hồn” cho hình ảnh!
Tôi xin kể một giai thoại về “Viện hàn lâm im lặng” . Cái Viện hàn lâm dè xẻn lời nói để chú tâm vào công việc ấy đã đủ 100 hội viên. Một hôm có một người đến xin ra nhập. Ông Viện trưởng - người tiêu biểu cho thể thức im lặng của Viện mình với vẻ lịch sự, bày ra trước mặt khách một li nước đầy tới miệng. Động tác đó hàm ý “Ngài thấy đấy, cái li nước đã hết sức chứa”. Người khách không một chút bối rối, ông ngắt một cách hoa hồng và thả nổi trên mặt cốc nước. Hành động thay câu trả lời “Các ông coi, thêm tôi, ly nước đầy chỉ thêm đẹp ra” và ông ta được mọi người chấp nhận. Ngôn ngữ hình tượng có sức diễn tả nhiều ý nghĩa, làm cuộc sống đẹp lên, sinh động và thông minh hơn.

 

Sau cuộc chiến. Ảnh T. Billhard


Cũng như hội họa, hình tượng nghệ thuật ở nhiếp ảnh là hình tượng thị giác, nhưng khác ở chỗ nhiếp ảnh xây dựng hình tượng trực tiếp trước đối tượng đang tồn tại trong cuộc sống thực tế. Nếu văn học là một hình thái ký ức được diễn tả bằng ngôn ngữ thì nhiếp ảnh bằng hình thức ghi nhận trực tiếp của mình càng làm cho tính tư liệu của nó thêm ý nghĩa. Chúng như sống một cuộc sống thứ hai trong ký ức chúng ta. Đó là một cảm giác cũ nhưng lại luôn mới, đậm chất văn hoá và mang tính lý trí. Với những tấm ảnh, chúng ta cũng đang suy nghĩ bằng hình ảnh. Vâng! Hình tượng được chắt lọc từ những khoảnh khắc của cuộc sống mà người nghệ sỹ vẽ nên bằng ánh sáng tạo nên linh hồn của những bức ảnh.
Công nghệ số ra đời đã sáng tạo ra một thế giới nữa cho loài người: đó là một thế giới ảo mà con người có thể sống và tương tác, hành xử như một thế giới thật. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lối tư duy, cách tiếp cận cuộc sống và sự tiếp nhận của nghệ thuật. Nó đòi hỏi phải có một sự thay đổi nhận định về mặt lý luận sao cho phù hợp với một hiện thực mới trong nghệ thuật nói chung và nhiếp ảnh nói riêng.
Kể từ khi xuất hiện kỹ thuật số (KTS) ở Việt Nam với tư cách là những công cụ hỗ trợ cho nghệ sỹ sáng tác, nó làm thoả mãn mong muốn thể nghiệm và sáng tạo của nhiều nghệ sỹ, mở rộng hơn khả năng và ứng dụng của nhiếp ảnh trong cuộc sống. Nhưng thực tế cho thấy, mọi sự việc, hiện tượng đều có hai mặt. Nhiều người cầm máy ảnh phụ thuộc vào máy tính. Sự phụ thuộc quá nhiều vào máy tính làm mất đi tính trong sáng của hình khối trong tác phẩm. Với những bố cục vụng về, ý tưởng tầm thường và phản cảm. Đồng thời quá trình số hoá (digitalize) đã và đang đặt ra một vấn đề lớn trong việc dần thay đổi thói quen tư duy và chọn lựa, có nguy cơ hình thành nên một lớp nghệ sỹ với những tác phẩm khô khan, vô cảm, lấy phần mềm lập trình thay cho những cảm xúc sáng tạo.

 

Người nghèo không cần đến nghệ thuật đâu”. Ảnh: Tony Nguyen


Hơn nữa, ai cũng có thể nhìn thấy sự xuất hiện của hàng loạt những cá nhân tự coi mình là “nghệ sỹ”, tạo ra các sản phẩm chẳng giống ai. Những nhân vật này chụp hoặc làm thay đổi những cái mà máy ảnh ghi nhận được và coi đó là một sản phẩm văn hóa, rồi tung lên internet làm một số không nhỏ các bạn trẻ, những người chưa được trang bị đầy đủ kiến thức, sự hiểu biết để có thể chọn lọc, tìm hiểu, học hỏi, tiếp thu kiến thức về các lĩnh vực văn hóa nhiếp ảnh bị ảnh hưởng. Những sản phẩm văn hóa không đạt tiêu chuẩn, chính là tiền đề của sự lệch lạc trong việc cảm thụ, cách nhìn nhận đánh giá những bức ảnh của kỷ nguyên nhiếp ảnh mới.
Vậy linh hồn của ảnh KTS nằm ở đâu?
Thời đại kỹ thuật số đã khuếch trương tất cả những thành quả và sức mạnh ma thuật của nó, hầu như không còn ranh giới giữa cái thật và cái ảo. Đồng tiền Bitcoin là một ví dụ điển hình. Còn gì ảo hơn thế, một cái gì đó không thể đã trở thành có thể. Nó đi ra và sà vào cuộc sống từ thế giới ảo, vô ảnh vô hình. Trong thời buổi như vậy tâm trí của những người cầm máy cũng bị xáo trộn, quan niệm về hiện thực nhiếp ảnh cũng có đổi thay. Thế giới hình ảnh không còn chỉ là những hình ảnh ghi chép được mà còn là những hình ảnh có thể ghi chép và biến đổi được, nhờ phần mềm trợ giúp photoshop. Điều này đã vượt qua ranh giới của nhiếp ảnh truyền thống. Nó làm thay đổi cả cách tiếp cận của chúng ta, những nhà nhiếp ảnh với thế giới mà ta đang tồn tại.
Nhiếp ảnh KTS là sự kết hợp của óc sáng tạo với các công cụ xử lý đồ hoạ vi tính, nó làm thay đổi cách nghĩ, cách hành động và cách sống của nhiều người, tạo nên một thế giới ảo đầy vẻ hấp dẫn và mang tính nghệ thuật cao. Nếu như bản chất của nhiếp ảnh báo chí là công cụ để chuyển tải thông tin và cảm xúc thì người nghệ sỹ lại dùng hình ảnh làm phương tiện truyền tải tư tưởng và thông điệp của mình. Sự sắp đặt và làm thay đổi hiện thực theo ý đồ của người nghệ sỹ đã có vị trí quyền lực thực tế.

 

Hôn nhân và gia đình. Ảnh: P. Richhard


Ở đây cũng phải nói rằng, làm đẹp một bức ảnh nhờ phần mềm photoshop không phải là một ý đồ, mà chỉ là một thao tác thực hành kỹ xảo nhiếp ảnh thời hiện đại. Ý đồ trong ảnh KTS là làm sao tạo ra bức ảnh hướng được suy nghĩ, cảm xúc của người xem theo cách mình muốn, chứ không phải tạo ra sự phản kháng của độc giả hay Ban giám khảo. Nó phải làm cho người xem thoát ra khỏi sự ám ảnh của thật và giả, hay nói cách khác là làm cho cái thật và cái giả không còn ranh giới, hòa quyện và cám dỗ. Họ bị quyến rũ bởi ảo giác có thật mà ảnh KTS tạo ra! Đối với ảnh KTS nó không chỉ giới hạn ở không gian 3 chiều: chiều dài, chiều rộng, chiều sâu. Mà nó được mở rộng ra cả chiều thứ tư - đó là chiều tương tác, nhằm tác động mạnh mẽ tới người xem. Ở đây người nghệ sỹ lấy sự tác động đến người xem làm mục đích sáng tác, chứ không lấy sự thỏa mãn cá nhân mình làm tiêu chí.
Với phương pháp sáng tác nhiếp ảnh cổ điển tôn trọng tính chân thực của chủ nghĩa tự nhiên, nó đã cho phép tác giả tiến gần tới vẻ đẹp của chân lý hơn. Còn ảnh KTS mang vẻ đẹp cảm tính, ẩn chứa khát vọng và những ý tưởng mang tính nhân văn về cuộc sống quanh ta mà con người có thể ao ước và tưởng tượng ra hay một lời cảnh báo mà cái có thể sẽ diễn ra nếu chúng ta không từ bỏ những việc làm đen tối. Nói một cách khác, những nhà nhiếp ảnh theo khuynh hướng ảnh KTS thổi vào nó một tinh thần thực hành thử nghiệm của nghệ thuật đương đại, làm cho nó trở nên sống động, chứa chất những suy tưởng của con người, vừa hết sức gần gũi với đời sống hiện thực nhưng cũng đầy biến ảo mang đậm chất nhân văn.
Nói gì thì nói, nghệ thuật đòi hỏi sự sáng tạo và nó liên quan chặt chẽ tới mỹ học. Sáng tạo là điều không thể thiếu, nó thường gắn liền với cái mới và là một hành động đơn lẻ, riêng tư chứ không phải là một sự rập khuôn hay bắt chước. Tạo nên cái đẹp đó là sứ mạng của những người nghệ sỹ, là khát vọng nhân văn và thẩm mỹ toát lên từ những thành tố, hình ảnh mà người nghệ sỹ tạo nên. Thiếu điều này bức ảnh chỉ là một chắp vá thô vụng, cứng nhắc và vô hồn.
Những gì đã mất của những ký ức trong quá khứ, hay những khát vọng được tái hiện lên trên những tấm hình, hay những ám ảnh của con người tạo nên linh hồn của ảnh KTS. Như vậy, dù diễn tả những cảm nhận sâu sắc trong hiện thực, hay thể hiện những ý tưởng nghệ thuật nhiếp ảnh đều xuất phát từ thực tế hay những trải nghiệm của người nghệ sỹ từ cuộc sống trần ai.

N.T

(Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số tháng 9/2014)

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)