Minh bạch thị trường nghệ thuật: Dễ hay khó?

Graham Bowley & William K. Rashbaum (Phạm Long lược dịch) 15/09/2017


Khi bán nhà, trong thủ tục giấy tờ bao giờ cũng phải liệt kê đầy đủ tên người bán, và danh sách những chủ sở hữu cũ từng sở hữu nó trước đó - nếu có. Nhưng khi một người nào đó bán một tác phẩm nghệ thuật tại cuộc đấu giá – thậm chí là một món trị giá tới cả trăm triệu đô, đắt hơn nhiều giá trị ngôi nhà – thì hồ sơ chi tiết của nó lại thường được giấu kín. Thật kỳ lạ.

 

Bức tranh Trên gường: Nụ hôn (Au Lit: Le Baiser) của Toulouse-Lautrec được gửi bán tại Sotheby’s ở London năm 2015, là tâm điểm của một vụ tranh chấp.


Giấy tờ, hồ sơ có thể giúp xác minh xuất xứ của tác phẩm, ví dụ như “từ một bộ sưu tập châu Âu.” Thế nhưng người mua tác phẩm đôi khi mất cảnh giác với người họ đang giao dịch. Thật đáng ngạc nhiên, thậm chí nhà đấu giá cũng không biết (hay giấu nhẹm đi) người bán. Phải chăng việc giữ kín nguồn gốc tác phẩm đã trở thành một tập quán của thế giới nghệ thuật? Giấu tên là để bảo vệ sự riêng tư, tăng thêm mức độ huyền bí, hay để che đậy những ‘tỳ vết’ liên quan tới các thương vụ ?

Theo nhận định của một số chuyên gia, kiểu giao dịch ‘kín kín hở hở’ như vậy chỉ thích hợp với thời kỳ thị trường nghệ thuật chỉ có vài nhà sưu tập giàu có thống trị, chứ ngày hôm nay, những giao dịch không minh bạch là bất thường, là liều lĩnh, bởi các tác phẩm nghệ thuật ngày nay đang được giao dịch trên thị trường như một loại hàng hóa phổ thông, và thị trường nghệ thuật thì ngày càng là mảnh đất của tội phạm rửa tiền và/hoặc tiêu thụ hàng giả, hàng trộm cắp hay có được một cách phi pháp.

 

Bức tranh Te Fare (La Maison) (1892) của Paul Gauguin thuộc sở hữu của Dmitry E. Rybolovlev bán được 20,32 bảng Anh tại nhà đấu giá Christie’s, tháng 2/2017. ©Christie’s


“Thị trường nghệ thuật là mảnh đất lý tưởng cho hoạt động rửa tiền” theo Thomas Christ, một thành viên của hội đồng quản trị của Viện Basel, tổ chức phi lợi nhuận của Thụy Sĩ, người có nhiều năm nghiên cứu về vấn đề này. Và ông cũng đề nghị: “nên minh bạch nguồn gốc của những món tiền lớn và nội dung chi tiêu của những khoản đó.”

Các cuộc tranh luận về tính bí mật trong thế giới nghệ thuật đã gia tăng trong những năm gần đây, nhất là sau vụ rò rỉ  thông tin của ‘Bản danh sách Panama’, phơi bày chi tiết việc sử dụng các tên giả để che giấu quyền sở hữu, trốn tránh các loại thuế và tạo điều kiện cho hoạt động tội phạm. Nhiều nhóm chuyên gia khác nhau, ví dụ như Viện Basel, đã tư vấn cho các nhà đương cục, những người quản lý thị trường một số biện  pháp áp dụng cho các đại lý và các nhà đấu giá, để minh bạch thông tin và thể hiện trách nhiệm phòng chống tội phạm rửa tiền và/hoặc tiếp tay cho các hành vi tàng trữ và tiêu thụ các tác phẩm giả mạo/phi pháp.

Trong một thay đổi đáng kể, giữa tháng 2/2017, nhà đấu giá Christie’s thông báo họ đã thắt chặt chính sách kinh doanh trong những tháng gần đây, luôn yêu cầu các đại lý muốn bán tác phẩm thông qua nhà đấu giá phải cho biết tên tuổi của chủ sở hữu mà họ đại diện. “Trong trường hợp họ không có thiện chí hợp tác, chúng tôi sẽ buộc phải từ chối giao dịch”, đại diện Christie’s cho biết.

Khoản tiền đầu tư vào mặt hàng nghệ thuật ngày càng tăng. Theo thống kê, tổng doanh số của các giao dịch chính thức tại các nhà đấu giá trên toàn thế giới trong năm 2015 vào khoảng 63,8 tỷ USD. Con số này thấp hơn rất nhiều so với thực tế, bởi vì rất nhiều thương vụ không được công khai hoặc các bên giao dịch cũng không cung cấp cho các cơ quan thống kê.

Trong một trường hợp rửa tiền điển hình mới đây, nhà đương cục Hoa Kỳ đã cáo buộc một số quan chức ngoại quốc có liên quan tới những hoạt động rửa tiền – biến hàng tỷ đô la công quỹ bị biển thủ thành những khoản đầu tư bất động sản và mua các tác phẩm nghệ thuật. Nhiều kiệt tác của các họa sỹ nổi tiếng như Basquiat, Rothko, Van Gogh và nhiều người khác đã được mua bằng những khoản ‘tiền bẩn’ do tham nhũng mà có, trong đó có nhiều thương vụ đã giao dịch qua nhà đấu giá Christie’s. Năm 2014, một công ty ở quần đảo Cayman – thuộc sở hữu của một trong những kẻ rửa tiền - đã tiến hành một giao dịch vay tiền của nhà Sotheby’s với tổng số lên tới 107 triệu USD mà tài sản thế chấp là các tác phẩm nghệ thuật.

Đã xảy ra một số vụ tranh chấp gần đây liên quan tới việc các nhà đấu giá không biết (hoặc biết nhưng không muốn bạch hoá) tên tuổi những người có tác phẩm bán đấu giá. Một nhà sưu tập đã cáo buộc Sotheby’s bán cho ông ta một tác phẩm của Henri Toulouse-Lautrec với giá tiền 16 triệu USD mà không cho biết chủ sở hữu thực sự của bức tranh là ai. Năm 2015, tác phẩm này của Toulouse-Lautrec, nhan đề “Trên gường: Nụ hôn” đã được gửi bán tại Sotheby’s ở London. Đại lý người Thụy Sĩ, ngài Yves Bouvier, người đại diện cho chủ sở hữu gửi bức tranh này bán tại Sotheby’s, đã ký giấy tờ xác nhận ông ta là người được ủy quyền để bán nó. Sau khi thương vụ hoàn thành, ông ta được nhận toàn bộ số tiền bán hàng, nhưng không hoàn trả cho chủ nhân thực sự - người đã uỷ quyền cho ông ta làm đại diện để bán bức tranh, vì thế đã bị khởi kiện. Chủ sở hữu thực sự của bức tranh là Dmitry E. Rybolovlev, một tỷ phú người Nga, người đã thuê ông Bouvier làm cố vấn nghệ thuật cho mình. Ông Rybolovlev thừa nhận rằng Bouvier đã được ủy quyền bán tác phẩm tại nhà đấu giá, song Sotheby’s cũng “cần phải kiểm tra xem ai là chủ sở hữu thực sự trước khi chuyển tiền”.

“Thật phi lý khi một tác phẩm hiếm và có giá trị cao như vậy được bán tại một nhà đấu giá mà nhà đấu giá này lại không biết danh tính của chủ sở hữu đích thực,” Tetiana Bersheda, luật sư riêng của gia đình Rybolovlev, đã đặt vấn đề trong một tuyên bố. Dù ông Rybolovlev đã khởi kiện ông Bouvier để đòi lại số tiền mà nhà Sotheby’s đã thanh toán ‘nhầm’ cho ông Bouvier (?!), song ông Bouvier - cũng là một doanh nhân sừng sỏ trong giới kinh doanh dịch vụ lưu trữ đồ quý hiếm quốc tế - tuyên bố sẽ không trả lại bởi vì ông ta được Rybolovlev ‘cho phép giữ lại khoản tiền này để trang trải những món nợ liên quan tới những hợp đồng giao dịch khác’.

 

Bức tranh Dustheads của Jean-Michel Basqiat đã bán được 48,84 triệu đôla tại nhà Christie’s, New York, tháng 5/2013, và người mua là “Ngài Jho Low” đến từ Malaysia


Nhà Sotheby’s từ chối bình luận câu hỏi rằng liệu họ có biết ông Bouvier là chủ sở hữu hay không, song cho biết “với tư cách là một khách hàng đã được uỷ quyền làm đại diện trong các giao dịch, nên về mặt pháp lý, ông ta có quyền bán những tài sản đó”. Theo chính sách nắm bắt danh tính của chủ sở hữu của các lô hàng gửi bán đấu giá, Sotheby’s có cách tiếp cận ‘chấp nhận rủi ro’, mà đôi khi, việc đòi hỏi bên bán cung cấp thông tin chủ sở hữu cũng tùy thuộc vào từng vụ việc và hoàn cảnh cụ thể.

Các nhà đấu giá tồn tại được là nhờ những khoản tiền kiếm được từ việc bán hàng thông qua môi giới hay những đại lý, vì vậy, họ phải tạo ra môi trường kinh doanh có được sự tin tưởng của cả người bán và người mua – những người mang lại lợi nhuận cho mình, chẳng hạn như ông Bouvier – người đã chi hàng trăm triệu đô la để mua các tác phẩm nghệ thuật tại các nhà đấu giá.

Một vụ việc khác liên quan tới các nhà đấu giá và đại lý là những doanh nhân người Malaysia. Từ năm 2013, những doanh nhân này đã mua các tác phẩm nghệ thuật với tổng số tiền hơn 200 triệu USD, núp dưới danh nghĩa ‘Tổng công ty Tài chính Tanore’, và tổng cộng họ đã mua 8 tác phẩm tại nhà Christie’s. Sau khi bị tố cáo rằng “những tác phẩm nghệ thuật đó được mua bằng tiền tham ô công quỹ, một trong những doanh nhân này - “Ngài Jho Low” - đã phủ nhận bất kỳ lời buộc tội nào, và cuối cùng, nhà đương cục vẫn chưa có đủ chứng cứ để kết án. Về phiá các nhà đấu giá, cả Christie’s và Sotheby’s đều tuyên bố họ đã có các đề án nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn hành vi rửa tiền, và cho đến nay, theo các kết quả điều tra, vẫn chưa tìm ra lý do nào đáng nghi ngờ liên quan tới ‘vụ ngài Low’.

Theo các chuyên gia, tác phẩm nghệ thuật đặc biệt thích hợp với những kẻ rửa tiền, vì dễ vận chuyển và cất giấu, lại có thể lưu giữ lâu dài trong một tầng hầm hoặc gửi tới một kho lưu trữ nào đó ở nước ngoài không hề khó khăn. Mặt khác, không giống như thị trường bất động sản, lãi suất trên thị trường nghệ thuật có thể tăng đột biến, có khi chỉ tuỳ thuộc vào những sở thích nhất thời và bất ngờ của người mua. Việc che giấu tên tuổi/tung tích của người mua và người bán gây nhiều khó khăn khi các chuyên gia tiến hành xác minh quyền sở hữu tác phẩm và dấu vết tội phạm.

 

Phòng tranh “Knoedler & Company”, tại 19 East 70th Street, New York, tuyên bố đóng cửa vào cuối tháng 11/2011. ©The New York Times.


Gần đây, việc giấu kín tên tuổi khách hàng đã là một yếu tố chính làm sụp đổ phòng tranh danh tiếng Knoedler & Company ở New York sau 165 năm hoạt động. Phòng tranh này đã bán các ‘kiệt tác’ - thực chất là tranh giả, ‘thuộc sở hữu của một sưu tập gia ẩn danh’ với tổng số tiền lên tới 80 triệu USD. Đại diện cho vị ‘sưu tập gia ẩn danh’ là một nữ thương gia nghệ thuật có văn phòng giao dịch tại Long Island và người bạn trai của bà ta. Họ nói tất cả các tác phẩm đều ‘có xuất xứ từ một nhà sưu tập bí ẩn’ và họ thường gọi với bí danh là “Ngài X”. Trong thực tế, theo kết quả điều tra, các tranh giả đều được chế tác trong một garage của một họa sỹ sống ở Queens, New York.

Jeanne Greenberg Rohatyn, một chủ gallery ở New York, cũng là một cố vấn nghệ thuật, kể rằng có những tình huống, ví dụ như có một học giả khi được đề nghị xem xét một kho lưu giữ các tác phẩm của một họa sỹ mà người chủ sở hữu là các nhà sưu tập, thì ông này nói rằng “khi tiếp xúc với người chủ sở hữu, tức là nhà sưu tập, nếu họ không hợp tác thì chúng tôi cũng buộc phải tôn trọng.” Chuyên gia này cũng phản đối việc đi quá xa mức độ bí mật cá nhân: “Việc minh bạch hoá luôn cần thiết, nhưng bộ sưu tập riêng của nhà sưu tập là bộ sưu tập của cá nhân họ; chúng nằm trong nhà họ. Nó đâu có thuộc phạm vi công cộng?”

Trách nhiệm gỡ bỏ ‘những tấm mạng che’, vạch rõ những khoản giao dịch liên quan tới các tác phẩm giả mạo và/hoặc tiền bẩn chắc chắn là thuộc về các chuyên gia tài chính và pháp luật. Trong lĩnh vực tài chính, năm 2016, các nhân viên Kho bạc Hoa Kỳ đã bắt đầu xác minh những tài khoản được các cá nhân lập ra dưới vỏ của các công ty giả. Tuy nhiên, các nỗ lực minh bạch hoá danh tính người bán người mua các tác phẩm nghệ thuật vẫn chưa đi đến đâu.

Cũng lại có nhiều quan điểm ủng hộ việc duy trì sự bí mật danh tính khách hàng. Theo một số nhà đấu giá và chuyên gia, tội phạm rửa tiền ‘rất hãn hữu xảy ra’ (?!), và ‘mối đe dọa được mọi người nêu lên chỉ là phóng đại’ (?!). Theo họ, do kinh nghiệm thương trường - các nhà đấu giá thường nắm được rất nhiều nguồn thông tin, nên nói chung đều biết rõ danh tính của các chủ sở hữu có liên quan tới lịch sử mua bán của các tác phẩm, chỉ có điều họ có muốn nêu công khai trên danh mục đấu giá hay không mà thôi.

 

Bức tranh có chữ ký ‘Tô Ngọc Vân’ trên sàn đấu giá Chrisite’s Hong Kong ngày 28/5/2017 (phải) bị nghi ngờ là tranh nhái bức tranh “The Young Beggar” của Bartolome Esteban Murillo (trái). Trong catalogue của nhà đấu giá, ở mục “Nguồn gốc xuất xứ” ghi rằng ‘Acquired directly from the artist by Claude Mahoudeau, Hanoi, 1943’ và ‘Private collection, Paris, France’ (tạm dịch: ‘Claude Mahoudeau mua trực tiếp từ họa sỹ, Hà Nội, 1943’ và ‘Sưu tập cá nhân, Paris, Pháp’ (?!). ©Artble/Christie’s


Một số người trong giới nghệ thuật cho rằng việc minh bạch tên tuổi khách hàng sẽ làm ‘hỏng thị trường’ (?!) và ‘vi phạm quyền riêng tư của cá nhân’. Theo họ, một số người bán là những người được thừa kế tác phẩm, và gia đình họ muốn tránh sự phiền toái một khi thông tin cá nhân liên quan tới các thương vụ đình đám bị bộc lộ. Những người khác, ví dụ như các bảo tàng, lại muốn âm thầm xác minh nguồn gốc tác phẩm từ bộ sưu tập của mình, chứ không muốn gây ầm ĩ, vì rất nhiều tác phẩm đắt tiền lại do các nhà hảo tâm/sưu tập gia hiến tặng, cho nên truy xét nguồn gốc quà tặng là việc khá tế nhị (?!).

Thậm chí, có chuyên gia còn khẳng định việc áp đặt các quy chế khắt khe cho nhà đấu giá là ‘lợi bất cập hại’, bởi vì như thế rất có thể làm lợi cho các thị trường/sàn đấu giá nước ngoài (những nơi có quy định thông thoáng hơn), hoặc vô hình chung tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các đại lý hoạt động riêng lẻ (những người không bị bắt buộc phải công khai các giao dịch hoặc thông báo số tiền mua bán).

“Chúng ta nên tiến hành từng bước một, và thận trọng,” Evan Beard, cố vấn khách hàng về nghệ thuật và tài chính tại ngân hàng U.S. Trust cho biết, “trừ phi chúng ta bắt đầu thấy nghệ thuật đã bị lạm dụng, theo những cách khác nhau. Chúng ta có thể hãm lại điều đó mà không cần ném quá nhiều cát vào các bánh răng.”

 

 

 

P.L (lược dịch)

(Nguồn: The New York Time, 2/2017).

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)