Một phong cách tượng khối Đông Sơn độc đáo

Số lượng tượng khối Đông Sơn phát hiện ngày một nhiều hơn cho phép giới nghiên cứu lịch sử mỹ thuật đánh giá lại bức tranh tổng thể của nền mỹ thuật Đông Sơn

Số lượng tượng khối Đông Sơn phát hiện ngày một nhiều hơn cho phép giới nghiên cứu lịch sử mỹ thuật đánh giá lại bức tranh tổng thể của nền mỹ thuật Đông Sơn, rằng đó không phải chỉ là một nền mỹ thuật trang trí khắc vạch trên mặt phẳng 2D nữa mà còn bao hàm cả nghệ thuật làm tượng khối khuôn lõi sáp ong. Về mặt niên đại, các tượng khối Đông Sơn có vẻ như thuộc về thời kỳ đỉnh cao và tiếp tục phát triển ở nửa sau thời gian tồn tại của nền văn hóa này, tức vào khoảng thế kỷ 3 trước Công nguyên đến khoảng trước sau Công nguyên, tương ứng với sự ra đời và suy vong của nhà nước Âu Lạc. Vì thế, mặt nào đó đã cho phép chúng ta gắn trào lưu tượng khối Đông Sơn với sự lan tỏa về phía nam của khối Đông Sơn Tây Âu (Vu) – tức khối Đông Sơn phía cực bắc có quan hệ mật thiết với các nền văn hóa phi hoa như Thục (Tứ Xuyên), Điền (Vân Nam), Dạ Lang (Quý Châu). Thủ lĩnh của người Tây Âu là Thục Phán, đã trở thành vua An Dương của khối liên minh Tây Âu-Lạc Việt, lập nước Âu Lạc đóng đô ở Cổ Loa. Sự kiện lịch sử này giúp làm dễ hiểu hơn sự phát triển tượng khối trong văn hóa Đông Sơn kể từ sau khi làn sóng Tây Âu trở thành chủ thể của quốc gia Âu Lạc và văn hóa Đông Sơn.

        

Hình bên trái là nguyên bản khối tượng đôi nam nữ tựa lưng nhau trong sưu tập Đặng Tiến Sơn.

Hình bên phải đã được phục dựng bằng kỹ thuật số phần cánh tay bên trái bị gãy.


Tượng khối Âu Lạc phổ biến ở giai đoạn sớm dưới dạng những vật gắn trang trí cho các vật dụng khác, như tượng người, thú (rùa, cá sấu, cóc, bồ nông, hổ, voi, rắn) trên khóa thắt lưng, trên nắp thạp, mặt trống cũng như trên cán dao găm, cán muôi đồng. Ở giai đoạn muộn, tượng cóc phổ biến trên mặt trống, mặt chuông trống, trên viền miệng thố, tượng nhạc công hay người hầu ở các loại cây đèn. Cùng với chuông trống, loại tượng khối có vành khuyên làm quai dùng để treo cũng xuất hiện báo hiệu một bước tiến lớn trong nghệ thuật tượng khối, tức là sự xuất hiện của những tượng khối độc lập không phải chỉ là vật gắn trang trí nữa. Trong trào lưu ưa chuộng trang trí tượng khối đó, đáng chú ý nhất có lẽ là loại hình tượng khối được đúc liền như một tay cầm cho dao găm, kiếm ngắn Đông Sơn, khiến chúng trở thành một đặc sản Đông Sơn. Đề tài thủ lĩnh cả nam lẫn nữ trở thành đề tài chủ đạo ở giai đoạn sớm. Ở giai đoạn muộn hơn, các hình tượng thủ lĩnh đó bắt đầu được biểu tượng hóa từ những nhân vật thủ lĩnh có thật, họ mang rìu, đeo kiếm, đầu lâu, cưỡi voi hoặc được cõng trên vai người khác1. Những loài thú tâm linh cũng được làm biểu tượng trên cán dao găm đương thời : rắn quấn đỡ voi, song hổ đỡ voi…
Cách làm tượng khối Đông Sơn chủ yếu là làm khuôn lõi sáp ong. Truyền thống này sau đó đã lan tỏa và đọng lại lâu dài trong nghệ thuật đúc đồng cổ truyền ở miền Trung và Nam Đông Dương (Indochina). Theo đó, vật dụng định đúc được tạo lõi kiểu dáng bằng sáp ong, sau đó dùng một lớp lót bằng đất mịn bọc in lấy lõi kiểu đó trước khi bọc áo khuôn dày có trộn trấu. Sau khi tạo đậu rót và lỗ thoát khí, khuôn được nung cứng tạo sức nóng khiến lõi sáp ong chảy ra sẽ được thay thế, chiếm chỗ bằng đồng nấu chảy. Vì thế có thể nói nghệ thuật tượng khối đồng Đông Sơn thực tế là nghệ thuật tạo hình bằng sáp ong. Nghệ thuật tạo hình bằng sáp ong này đặc biệt cao siêu khi nghệ nhân in nguyên bản những đồ đan mẫu bằng tre nứa đến mức trên hiện vật đồng vẫn còn rõ nét cả sợi xơ thực vật, khiến các đồ đồng được đúc ra không khác gì một đồ đan bằng mây tre.

 

Hai mặt khối tượng tựa lưng trong sưu tập CQK (bên trái là mặt nam đóng khố, bên phải là mặt nữ mặc váy). 

 

 

Khối tượng ở tư thế phần tượng nam nằm ngửa phần tượng nữ úp mặt.


Quan sát cách tạo tượng người và thú bằng sáp ong dưới thời Đông Sơn chúng tôi nhận thấy rất gần gũi với cách nặn tượng “tò he” bằng bột gạo hiện còn lưu truyền nước ta. Trong đó rất đáng chú ý là kiểu tạo tượng đôi rất đơn giản, phóng khoáng nhưng phảng phất phong cách tạo hình hiện đại.
Cho đến khi viết bài này, chúng tôi mới bắt gặp hai tiêu bản tượng đôi nam nữ Đông Sơn được làm theo phong cách độc đáo này. Một tiêu bản của sưu tập Đặng Tiến Sơn (Hà Nội)2 và một tiêu bản của CQK (California, USA). Cả hai khối tượng thể hiện một cặp đôi nam nữ, đứng tựa lưng vào nhau, phô bày mặt trước ra hai phía. Hai thân người được cắt ra từ hai mảng sáp dẹt như hai miếng bìa carton dày 3-4mm, rộng khoảng 3-4cm, dài chừng 8cm. Đầu người được nặn khá đơn giản với khối nhô tạo mũi cao ở chính giữa, hai tai làm bằng cách dùng ngón ngón tay “véo” nhẹ phần sáp hai bên má, trên khối nhô mặt nghệ nhân trổ mắt, rạch miệng đơn giản và cuộn một băng dây sáp tạo khăn, tóc. Cả hai khối tượng gồm 2 nam 2 nữ đều đội một dạng “mũ” trông như chiếc mũ nồi trên đỉnh đầu. Các tượng đều có tứ chi được làm bằng cách vê dài các sợi sáp đường kính 2-3mm, trên đó cuốn những sợi sáp nhỏ hơn làm vòng. Khố của tượng nam cũng được cuộn bằng những sợi sáp tương tự vòng qua hang, từ trước ra sau rồi cuốn một vòng khác quanh thắt lưng, trong khi váy của tượng nữ được bọc bởi một miếng sáp cán mỏng hơn. Tay của hai tượng cuốn vòng vào nhau đặt bàn tay ở hông như thế chống nạnh rất phổ biến trong văn hóa Đông Sơn, trong khi các chân đứng thẳng áp sát vào nhau tạo thành hai cụm thanh trụ. Tượng nam nữ đều ở trần, nam đóng khố, nữ mặc váy ngắn, ngực phẳng, có hai vòng tròn núm vú.

  

Chi tiết chụp nghiêng phần đầu khối tượng CQK


Điểm độc đáo của hai khối tượng này là các cặp đôi đứng quay lưng vào nhau chứ không phải tư thế úp bụng như từng thấy trên thạp Đào Thịnh hoặc trên chiếc châm cài nhỏ trong sưu tập Đặng Tiến Sơn. Việc tạo thân bằng hai tấm bản dẹt đã khiến ở tư thế áp lưng như vậy họ đã tạo thành một khối tượng thống nhất, nam nữ chung thân. Rõ ràng có một triết lý nhân sinh đã được ẩn ý trong cách tạo hình đó. Đáng tiếc chúng ta chưa làm rõ được vị trí của khối tượng cũng như những di vật đi cùng. Theo vết gãy ở phần cổ chân trên cả hai khối tượng kể trên, chúng tôi ngờ rằng tượng được gắn trên một đồ vật nào đó. Trong sưu tập CQK, khối tượng còn một trụ chân được chủ nhân trước đó đã gắn vào chính giữa một đĩa đèn hình tròn và đắp thêm phần bàn chân vào. Tuy nhiên xem xét kỹ chúng tôi không thấy mối liên hệ nào giữa khối tượng với chiếc đĩa đèn đó cả. Vết gắn hoàn toàn mới.
Khi chúng tôi giới thiệu ba pho tượng rời thời Đông Sơn mang đặc trưng da đen (negrito) như tóc xoăn, môi dày , chân tay dài, mảnh3, một số người đã liên tưởng đến nghệ thuật tạo hình “tượng dây” giống như nghệ thuật tạo hình của các bộ lạc châu Phi thời cận hiện đại. Hai khối tượng tựa lưng nêu ở trên hoàn toàn khác với phong cách ba pho tượng negrito đó. Chúng thuộc những truyền thống nghệ thuật khác xa nhau, trong đó, hai khối tượng tựa lưng nhau hoàn toàn mang đặc trưng của văn hóa Đông Sơn.

Chú thích:

1 Nguyễn Việt, 2008, Chiếc kiếm ngắn Đông Sơn mang dư ảnh Hai Bà Trưng, trong Nghiên ứu Mỹ thuật, số 3-2008.

2 Phát hiện vào khoảng 2004. Chúng tôi đã làm tư liệu và giới thiệu hình chụp trong một bài viết : Nguyễn Việt, 2006, Bronze Love – Tình yêu Đồng, trong Heritage Fashion, tháng 8-9 năm 2006. Theo ghi nhận của chủ nhân thì khối tượng này phát hiện trong một mộ thân cây khoét rỗng Đông Sơn ở vùng ngoại ô phía nam Hà Nội.

3 Việt Đức, 2010, Câu chuyện về ba bức tượng lạ - Những cuộc giao lưu kỳ bí trong Tiền sử Việt Nam. Trong Nghiên cứu Mỹ thuật, số 1-2010.

 

 

N.V

(Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số tháng 10/2014)