Nghệ thuật Pháp lam Huế ứng dụng trên sản phẩm hiện nay

Hương Ly 13/05/2016


Đến với thành phố Huế thơ mộng, du khách đa phần đều lựa chọn các địa điểm lịch sử như Đại nội, lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn hay ghé thăm Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế trong lịch trình du ngoạn thành phố của mình. Những nơi đây vẫn còn lưu lại trên cổng tam quan, diềm trang trí hay những lọ, bình, đĩa, khay sinh hoạt, đồ thờ tự màu men pháp lam rực rỡ, tươi sáng, trường tồn với thời  gian. Pháp lam Huế là tên để chỉ kỹ thuật tráng men trên kim loại- thường là kim loại đồng, xuất hiện tại Việt Nam thời Nguyễn, do ông Vũ Văn Mai thấy nhu cầu dùng đồ pháp lang Trung Hoa được giới quý tộc và dân chúng xứ Huế ưa thích, bèn sang Quảng Đông học nghề. Khi về nước, Vũ Văn Mai tấu trình lên vua và được giao cho lập xưởng chế tác cho triều đình vào năm 1827. Tuy nhiên, nhà Nguyễn chọn từ “pháp lam” chứ không phải từ “Pháp lang” vì lý do kiêng kỵ quốc húy của triều Nguyễn. Mặc dù nghề làm pháp lam được học từ Trung Hoa nhưng đó không phải cái nôi khai sinh ra kỹ thuật tráng men trên kim loại. Ngược lại dòng chảy lịch sử, dựa trên các di chỉ khảo cổ và những hiện vật còn lại, các nhà khoa học đã cho thấy rằng kỹ thuật tráng men kim loại xuất hiện từ thời Ai Cập với sản phẩm nổi tiếng nhất là chiếc mặt nạ vàng của Pharaon Tutankhamun (vị vua vương triều thứ 18 của Ai Cập cổ đại) với những lớp men màu được chia ô trám lên bề mặt kim loại vàng (về sau hình thức tráng men kim loại có chia ô giữa các màu men bằng các sợi kim loại được gọi là kỹ thuật Cloisonne).


 

 

 

Mặt nạ vàng có tráng men Pharaoh Tutakhamun (trái trên) và các sản phẩm ứng dụng kỹ thuật tráng men trên thế giới


Cùng trong thời cổ đại, kỹ thuật tráng men kim loại khác có tên Champleve - phương pháp lợi dụng chỗ lõm trong kim loại trước đây được đúc hoặc chạm khắc để đổ đầy bằng một lớp men đỏ, xanh lam, trắng và xanh lục mờ đục cũng tồn tại và phát triển ở châu Âu. Đến thế kỷ 15, bên cạnh các kỹ thuật Cloisonne, Champleve trong thời kỳ này còn xuất hiện thêm một kỹ thuật mới của tráng men kim loại là Plique a jour- Phương pháp này đòi hỏi việc sử dụng những chất men trong suốt trộn lẫn với nhau để hình thành một mảng gắn kết lan rộng theo chiều dài các ô hộc mà không cần bệ đỡ men và kỹ thuật Painted enamels- dùng bút lông để vẽ các họa tiết bằng men màu lên nền cốt đồng đã được xử lý bằng một lớp men lót, rồi đem nung, khởi nguyên từ vùng Limoges (Pháp) và vùng Battersea (Anh) ra đời. Kỹ thuật này về sau được các nước Tây Âu khác như Đức, Hà Lan, Ý, thậm chí cả các nước ở Trung Cận Đông… bắt chước. Các kỹ thuật tráng men kim loại đã tới Trung Hoa qua hai giai đoạn, giai đoạn 1 vào thế kỷ 13-14 qua ngã Tây Vực theo vó ngựa viễn chinh của quân Mông Cổ, và được người dân Trung Quốc gọi dưới cái tên Kháp ty pháp lang đối với kỹ thuật Cloisonne, Tạm thai pháp lang với kỹ thuật Champleve. Giai đoạn 2, kỹ thuật Plique a jour và Painted enamels tiếp tục theo chân các tu sỹ dòng Tên trong hành trình truyền giáo sang phương Đông du nhập vào Trung Quốc và được biết tới dưới tên Thấu minh pháp lang với kỹ thuật Plique-a-jour và Họa pháp lang với kỹ thuật Painted enamels.Các sản phẩm tráng men kim loại du nhập từ Trung Hoa và cả các sản phẩm do ông Vũ Văn Mai và môn đệ học được và chế tác đa phần áp dụng kỹ thuật Họa pháp lang. Các sản phẩm pháp lam Huế theo các nghiên cứu, thịnh hành vào các đời vua Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883), sa sút từ sau thời kỳ “tứ nguyệt tam vương” [1] và dù được phục hồi, chỉnh đốn dưới triều Đồng Khánh (1885-1889) song không phục hưng nổi mà rơi vào thoái trào rồi thất truyền chủ yếu do tình hình tài chính eo hẹp không nhập được các màu men kim loại từ nước ngoài về như thời kỳ trước. Như vậy, thời gian tồn tại của kỹ nghệ pháp lam Huế, từ lúc khai sinh đến khi thất truyền, chỉ hơn 60 năm. Nhưng di sản pháp lam còn lại trên mảnh đất cố đô Huế khá đồ sộ, phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình và kiểu thức.


Đèn pháp lam  trang trí


Giáo sư Nguyễn Du Chi nhận định: “pháp lam Huế đã mang tư cách về một hướng đi đầu tiên của nền hội họa Việt. Rất tiếc hướng đó không có điều kiện để phát triển dưới thời Pháp đô hộ”. Tuy nhiên, hiện nay tại Huế, nghề pháp lam đã được nghiên cứu và khôi phục lại bởi kỹ sư-thạc sỹ Đỗ Hữu Triết đã tạo điều kiện tiếp tục gìn giữ và phát triển nghề thủ công độc đáo này. Hiện nay, kỹ thuật tráng men kim loại áp dụng trên các sản phẩm thường là kỹ thuật họa pháp lam (Painted enamels) và kỹ thuật ngăn ô chia hộc kháp ty pháp lam (Cloisonne). So với các sản phẩm pháp lam trước đây thường ở dạng đồ gia dụng tế tự, trang trí nội ngoại thất, các sản phẩm pháp lam hiện nay có cùng mục đích sử dụng nhưng thêm các dạng tranh treo tường và sản phẩm làm quà tặng lưu niệm. Có thể điểm qua các sản phẩm của kỹ thuật pháp lam hiện nay như các bức tranh treo tường đơn chiếc hoặc một bộ gồm nhiều tranh, các dạng đèn ngủ, đèn đường, bàn ghế, bình phong… trang trí nội ngoại thất, bình, lọ, bát pháp lam trang trí và các hộp đựng trang sức, mặt dây, vòng tay trang sức làm quà tặng.Vẻ đẹp của sản phẩm pháp lam được bắt đầu với sự khéo léo của người nghệ nhân kim hoàn tạo khuôn cốt kim loại- thường pháp lam Huế dùng cốt bằng đồng thau do dễ gia công cắt gọt và tạo hình. Với sản phẩm pháp lam, nhằm tiết kiệm màu men và hiệu quả nhất khi nung, cốt kim loại thường thấp hơn gờ chặn màu khoảng 0.3 đến 0.5mm. Sau đó, cốt kim loại sẽ được tráng một lớp men nền- lớp men có vai trò liên kết giữa cốt kim loại và lớp men bên ngoài lên bề mặt cốt kim loại rồi đem nung ở nhiệt độ gần 9000C. Tùy theo kích thước sản phẩm mà được nung ở lò cỡ nhỏ, cỡ trung hay cỡ đại. Khi đã có được loại cốt đã tráng men, người nghệ nhân tùy theo việc sử dụng kỹ thuật kháp ty pháp lam (Cloisonne) hay họa pháp lam (Painted enamels) để tô riêng men màu- là lớp men trong và mỏng bên ngoài lớp men nền, dùng để vẽ trên bề mặt sản phẩm- bằng bút lông các cỡ lên từng ô đã chia hay vẽ trực tiếp lên nền men những hoa văn trang trí và để khô rồi nung một lần nữa ở nhiệt độ 9000C để hoàn thiện sản phẩm. Màu men sử dụng trong kỹ thuật pháp lam là men thủy tinh, khi sử dụng pha cùng nước ở tỷ lệ nhất định.


 

 

 

Các sản phẩm pháp lam 


Chính việc pha men cùng nước khiến cho màu sắc của pháp lam thêm phong phú, không chỉ dừng lại ở các màu có sẵn mà còn có thể chuyển màu bằng cách tô một màu men trước, sau đó dùng bút lấy màu men thứ hai chấm ở một góc để màu men loang dần theo chủ ý sáng tác. Trong trường hợp màu men chưa ưng ý, người nghệ nhân có thể tiếp tục tô men thêm rồi để khô và nung tiếp, làm nhiều lần như vậy tới khi màu men ưng ý thì dừng lại. Sau cùng, sản phẩm được đem mài bằng giấy ráp thô các cỡ từ 200 đến 400 để lộ rõ lớp màu của sản phẩm và mài bóng để hoàn thiện. Như vậy, có thể nhận thấy sản phẩm pháp lam Huế là những sản phẩm thủ công, với sự trợ giúp nhỏ từ máy móc, chủ yếu được tạo thành từ bàn tay khéo léo và sự sáng tạo của người nghệ nhân. Ưu điểm lớn nhất của sản phẩm sử dụng kỹ thuật pháp lam là màu sắc tươi sáng, phong phú, đa dạng và độ bền của sản phẩm. Sản phẩm được thực hiện phần lớn trên đồng, bởi vậy trọng lượng sản phẩm không lớn, thuận tiện trong việc vận chuyển. Bên cạnh đó, Huế còn là một trong bốn địa phương có làng nghề kim hoàn truyền thống của cả nước còn duy trì tới ngày nay, với sắc phong cho ông Cao Đình Độ là “Đệ nhất tổ sư” và ông Cao Đình Hương là “Đệ nhị tổ sư” của nghề kim hoàn. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho nghề làm pháp lam với những nghệ nhân kim hoàn lành nghề, tài hoa, có kinh nghiệm trong việc tạo dáng và xử lý kỹ thuật với cốt kim loại đồng. Ngoài ra, việc có thể chuyển màu, pha màu khiến việc thể hiện màu sắc pháp lam không bị hạn chế cũng góp phần vào hiệu quả của sản phẩm. Đồng thời, việc sau quá trình nung nếu chưa đạt được màu sắc sản phẩm như ý có thể tiếp tục vẽ men và nung làm nhiều lần tới khi đạt được màu sắc theo yêu cầu cũng khiến sản phẩm pháp lam hoàn thiện đạt được giá trị thẩm mỹ về màu sắc tốt nhất, đúng theo ý của người sáng tác.


Đèn đường pháp lam nghệ thuật


Các sản phẩm pháp lam hiện nay bên cạnh kế thừa các chủ đề long phượng, hoa dây trong vốn cổ, cảnh sơn thủy… của thẩm mỹ cung đình, vừa tìm tòi chủ đề từ chính cuộc sống thường nhật như cảnh sinh hoạt, lao động, cảnh quan kiến trúc Huế khiến nhận định về sản phẩm pháp lam một thời là báu vật xa xỉ, quý hiếm, sang trọng, chỉ được dùng để trang trí ở những nơi cung điện, tôn miếu uy nghiêm đã trở nên thân thuộc gần gũi hơn với người sử dụng. Ngoài ra cũng xuất hiện một số phù điêu chủ đề Phật giáo được sử dụng kỹ thuật pháp lam thể hiện khả năng ứng dụng bước đầu của kỹ thuật này trong các sản phẩm phục vụ Phật giáo- tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong văn hóa dân gian Huế. Một đặc trưng nữa của sản phẩm pháp lam Huế ở tính địa phương cao, thể hiện tính thẩm mỹ và văn hóa xứ Huế, nhưng đồng thời hòa chung trong nền văn hóa Việt Nam. Điều này giúp cho việc sản phẩm pháp lam được công chúng đón nhận dễ dàng hơn. Song, một nhược điểm của sản phẩm pháp lam có lẽ phải kể tới các dạng sản phẩm trang sức làm quà lưu niệm. Xét trên những ưu điểm mà sản phẩm pháp lam có thể đạt được, trang sức sử dụng kỹ thuật pháp lam hoàn toàn có thể trở thành một nhánh phát triển mạnh mẽ do màu sắc hấp dẫn, giá thành rẻ, sản phẩm dễ dàng sử dụng, góp phần tạo sự thu hút của sản phẩm pháp lam tới người dùng. Nhưng do hạn chế về vấn đề tạo hình, các sản phẩm trang sức sử dụng kỹ thuật pháp lam Huế hiện nay vẫn chưa đạt được thành công như mong đợi.

Trong thời gian hơn 12 năm kể từ ngày kỹ sư- thạc sỹ Đỗ Hữu Triết cùng các chuyên gia phục dựng thành công kỹ thuật pháp lam Huế và cùng các đồng nghiệp là những nghệ nhân kim hoàn, nhà thiết kế và họa sỹ có cùng niềm đam mê và chuyên tâm với sản phẩm pháp lam đang tạo cho pháp lam Huế một diện mạo mới, với sự đón nhận bước đầu của không chỉ người dân Việt Nam và khách du lịch quốc tế. Với các showroom trưng bày sản phẩm pháp lam, các hiện vật pháp lam trưng bày trên đường phố hay ứng dụng trong các nhà hàng, nhà nghỉ dưỡng, trong trang trí cột và phù điêu các ngôi chùa đã tạo điều kiện cho công chúng tiếp nhận sản phẩm pháp lam Huế. Đồng thời, bằng việc kết hợp với các tour du lịch đưa du khách tới tận nơi sản xuất pháp lam và tự tay thực hiện những sản phẩm đơn giản cũng góp phần quảng bá pháp lam Huế và những người dân Huế thân thiện, hiếu khách. Đánh dấu bằng sự kiện pháp lam Huế đã được vinh danh trong Festival làng nghề truyền thống Huế năm 2009 cho thấy sự công nhận về một nghề truyền thống của Huế đã hồi sinh. Điều này khiến chúng ta kỳ vọng về sự phát triển của kỹ thuật pháp lam Huế trong tương lai không xa với sự quan tâm giúp đỡ của các ban ngành có liên quan không chỉ hướng tới thị trường trong nước mà cả quốc tế, tạo nên thương hiệu của một ngành nghề truyền thống mang trong mình cả những nét cổ truyền, văn hóa Việt hòa cùng những nét mới mẻ, hiện đại của thời đại hiện nay. 

[1] Đây là giai đoạn lịch sử đen tối nhất của triều Nguyễn, sau khi vua Dục Đức bị truất phế, chỉ trong vòng 4 tháng mà hai quyền thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã lập rồi truất phế thêm 2 người nữa là vua Hiệp Hòa và vua Kiến Phúc nên ở Huế mới có câu: Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết, Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường (Một sông hai nước lời khôn nói, bốn tháng ba vua triệu chẳng lành)

(Tư liệu ảnh: cung cấp bởi công ty TNHH Thái Hưng, địa chỉ 66 Chi Lăng, thành phố Huế)

H.L

(Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số tháng 4/2016)

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)