NGUYỄN QUÂN VÀ THỜI ĐIỂM ĐỔI MỚI

Thời điểm Đổi mới, cách đây 30 năm, được xác định trong khoảng thời gian 1987/1988 là một bước thay đổi lớn của dân tộc, không chỉ đơn thuần là chuyển từ nền kinh tế Bao cấp và kế hoạch hóa, sang nền kinh tế thị trường...

Thời điểm Đổi mới, cách đây 30 năm, được xác định trong khoảng thời gian 1987/1988 là một bước thay đổi lớn của dân tộc, không chỉ đơn thuần là chuyển từ nền kinh tế Bao cấp và kế hoạch hóa, sang nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, việc bỏ cấm chợ ngăn sông, từng bước đi đến nền kinh tế thị trường tự do, công nhận sở hữu tư nhân đã làm cho đời sống trở nên dễ thở, so với giai đoạn trước đó, lương thực, hàng hóa khan hiếm trầm trọng và đồng lương không nuôi nổi cán bộ một tuần. Đối với văn nghệ, nhất là đối với mỹ thuật, Đổi mới nhanh chóng tạo ra những cuộc giao lưu văn hóa bằng các triển lãm ra nước ngoài, dưới hình thức cá nhân và một thị trường manh nha, nhưng cải thiện căn bản đời sống nghệ sỹ. Và theo như Nguyễn Quân, giới mỹ thuật đã đi trước một bước so với các ngành nghệ thuật nói chung, và vì thế nó được hưởng lợi nhiều nhất thành quả của Đổi mới.

 

 

Họa sỹ, nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân


Cái cảm giác về sự cần thiết thay đổi trước tiên vì nhiều mặt của đời sống, sau đó mới đến nghệ thuật. Những bất cập về dân chủ, quản lý kinh tế và xã hội từng được đề cập trong các sáng tác sân khấu của Lưu Quang Vũ và sau đó trong văn học của Nguyễn Huy Thiệp. Mỹ thuật là một lĩnh vực không có quá trình thời gian và không nghiêng về các mâu thuẫn xã hội, bởi vì nó chỉ là một thời điểm không gian thẩm mỹ, tuy nhiên nó có thể diễn đạt sâu sắc các tâm trạng xã hội thông qua các gương mặt và hành vi của con người. Điều có thể thấy trong hội họa của Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm và Dương Bích Liên. Các họa sỹ trẻ cũng nhậy cảm với điều đó và họ cần sự tự do hơn khi lựa chọn nhiều ngôn ngữ sáng tạo hơn là chỉ hạn chế trong ngôn ngữ tả thực, và cũng không muốn chờ đợi một sự chỉ đạo nào về phương hướng sáng tác. Chủ nghĩa Hiện đại (Modern Art) đã được vận dụng ít nhiều, chủ yếu dưới mặt hình thức ngay từ những năm 1980, đặc biệt trong triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 1980, khi sự phê phán chủ nghĩa Hiện đại trong nghệ thuật bắt đầu nới lỏng. Cuộc triển lãm Họa sỹ trẻ năm 1982, tại nhà triển lãm Ngô Quyền, cho thấy một bước nữa về sự đề cập đến chiến tranh, đời sống xã hội bằng ngôn ngữ lập thể, biểu hiện và sự khai thác truyền thống dân tộc kết hợp với ngôn ngữ hội họa Hiện đại. Việc đưa ra triển lãm cá nhân của các họa sỹ Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng và Bùi Xuân Phái trong thập kỷ 1980, cho thấy vai trò quan trọng của cá nhân nghệ sỹ và sự đổi mới bắt đầu từ những thành viên trẻ của ban chấp hành hội Mỹ thuật. Điều này về sau có sự tranh cãi nhất định có thực sự một nền hội họa Đổi mới (hay mỹ thuật nói chung) hay không, hay đó chỉ là đổi mới về hoạt động nghệ thuật mà thôi. Họa sỹ Lý Trực Sơn cho rằng: Không hề có một thứ hội họa Đổi mới. Ông cho rằng: Đổi mới chỉ là vấn đề xã hội, đối với Bùi Xuân Phái chẳng hạn, thì Đổi mới hay không, ông vẫn vẽ như thế. (Ghi chép Những trao đổi riêng với họa sỹ Lý Trực Sơn). Đây là điều ông không tán thành quan điểm của họa sỹ Nguyễn Quân.

 

Nguyễn Quân, Đường lên Tây Bắc, sơn dầu, 1986


Nguyễn Quân nhận thấy trong cơ chế Bao cấp, các họa sỹ vẽ theo phương châm sáng tác mà nhà nước chỉ đạo, đặt ra, rồi nhà nước cho tiền bầy triển lãm, bảo tàng nhà nước lại mua tranh. Đó là một vòng tròn rất tiện cho các nghệ sỹ sáng tác làm công nhân viên chức. Tất nhiên là Hội Mỹ thuật, các cơ quan Mỹ thuật sẽ duyệt triển lãm, với rất nhiều điều cấm kỵ mơ hồ. Từ thời điểm Đổi mới, giới mỹ thuật (hay nghệ thuật nói chung) được xác định rõ phạm vi của tự do sáng tạo và những quy chế sáng tác nói theo diện rộng - tất cả mọi ngôn ngữ nghệ thuật người sáng tác đều có thể làm, với ba điều không được vi phạm: Không đi ngược lại chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước; Không tuyên truyền văn hóa đồi trụy; Không phân biệt chủng tộc (Ghi chép Những trao đổi riêng với họa sỹ Nguyễn Quân, 1983/1988) Trên thực tế thì ba điều này cũng phổ biến ở nhiều quốc gia. Những cuộc trao đổi với những nhà quản lý ở thời điểm Đổi mới cho thấy sự Bao cấp không chỉ dừng lại ở lĩnh vực kinh tế, mà quan trọng có cả sự Bao cấp về tinh thần. Nguyễn Quân nhấn mạnh sự cần thiết phải từ bỏ bao cấp về tinh thần, bắt đầu tự việc tự sáng tác, tự trình bầy triển lãm và tự bán tranh. Tinh thần đó được mở đầu trong trại Sáng tác Đại Lải, năm 1985 và sau đó là cuộc triển lãm những sáng tác Đại Lải năm 1986 với nhiều họa sỹ già trẻ mong muốn sự thay đổi cấp tiến.

 

Nguyễn Quân, Lồng chim, gỗ mít+tre, 1996


Cuộc triển lãm các nước Xã hội chủ nghĩa, năm 1987, tại bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là lần tụ hội cuối cùng về mặt nghệ thuật trước khi khối XHCN Đông Âu tan rã, cho thấy một toàn cảnh xã hội đầy những nỗi buỗn và những bất cập. Thực ra, có một sự kiện ít người để ý, ngay từ những năm 1980, cuốn sách Nửa đời nhìn lại gồm nhiều truyện ngắn của các nhà văn các nước XHCN Đông Âu đã phản ánh tâm tư buồn tẻ về những hoàn cảnh sống bất trắc. Người Việt sau chiến tranh có quá nhiều việc làm để giaỉ quyết đời sống khó khăn ít nhìn đến những khó khăn của người khác. Sau đó trong năm 1989, Nguyễn Quân và những nghệ sỹ tổ chức triển lãm hội họa 16 người cũng tại bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Đây là triển lãm tự làm đầu tiên, hoàn toàn tự túc về kinh phí và tổ chức, không có hội Mỹ thuật xét duyệt. Cuộc triển lãm thành công trước hết về sự nhận thức vai trò cá nhân nghệ sỹ chủ động với sáng tác của mình và tự chịu trách nhiệm khi đưa tác phẩm ra xã hội. Triển lãm cũng là tiền đề của triển lãm sau đó – Tâm hồn bộc bạch (Uncorked Soul), do gallery Vạn Ngọc đường (Plum Blossoms Gallery) tại Hồng Kông tổ chức, năm 1991, lần đầu tiên bầy ở một nước ngoài khối Xã hội chủ nghĩa. Triển lãm này sau đó được bầy tại Singapore. Ngay lập tức hội họa Việt Nam được coi là một phát hiện ở châu Á và trở thành cây cầu văn hóa khi Việt Nam Đổi mới và mở cửa. Từ đó các họa sỹ liên tục trưng bầy tác phẩm của mình trong ngoài nước, với tư cách cá nhân, trực tiếp làm việc với các gallery và các tổ chức văn hóa nước ngoài, cũng như các chuyến hội thảo và thăm quan nghệ thuật. Đến năm 1992 thì triển lãm Hội họa Trừu tượng đầu tiên được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, những thay đổi về nhận thức nghệ thuật cũng bắt đầu thấy được ở điêu khắc trong triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc năm 1990 và triển lãm Điêu khắc 10 năm lần năm 1993.

 

Nguyễn Quân, Bố cục, sơn dầu, 1992


Trong bài Mỹ thuật Đổi mới - một thời sự đã qua, Nguyễn Quân viết: Trong không khí “đêm trước của Đổi mới” mỹ thuật trở thành lò phản ứng, phòng thí nghiệm chuẩn bị cho mở cửa và đổi mới vượt qua vô vàn khó khăn, cản trở từ phía bảo thủ, công thần, quan liêu bao cấp cùng sự rụt rè, tâm lý “sợ làn cây cong” của số đông nghệ sỹ “trung dung”. Đến 1989 hình như có một sự tự kìm hãm “sợ đi nhanh quá thì té, mở cửa nhanh quá thì trúng gió” với các thiết chế và cách “quản lý” mỹ thuật mang tính cơ hội, bảo thủ, ít tâm huyết. Tình trạng này kéo dài tới tận bây giờ khi mà toàn bộ các thiết chế mỹ thuật không còn phù hợp với xã hội nữa. Cũng may là từ 1990 mỹ thuật hoạt động chủ yếu trên cơ sở cá nhân, các tổ chức phi chính phủ và mở cửa với thế giới. Các triển lãm hội họa VN ở nước ngoài tạo ra một phát hiện văn hóa. Hội họa doimoi trở thành “cửa sổ dân chủ”  của văn hóa VN. Sự bùng nổ ở trong nước và sự hấp dẫn của hội họa VN đối với khu vưc và quốc tế kéo dài tới khoảng cuối những năm 1990. (Tạp chí Tia sáng,5/11/2006).

 

Nguyễn Quân, Hồ Tây, sơn dầu, 1982


Vừa nhập cuộc tích cực với tư cách là người tổ chức và sáng tác, hòa đồng một cách đơn giản với nghệ sỹ nói chung, vừa cô đơn một cách sâu sắc, Nguyễn Quân luôn nhìn ra trước những vấn đề xã hội và cách thức phát triển nghệ thuật khi nền kinh tế thị trường còn hết sức manh nha, ông cũng nhìn ra những mặt hạn chế của thị trường hội họa khi nó có nguy cơ hủy hoại sự lành mạnh của sáng tác và tính hình thức của nghệ thuật khi đuổi theo thị trường, điều mà sáng tác trước Đổi mới chưa xuất hiện. Sự kết hợp giữa việc tìm lại cội nguồn văn hóa truyền thống và ngôn ngữ nghệ thuật Hiện đại (Modern Art) đã làm cho nghệ thuật Việt Nam vừa dân tộc hơn vừa hiện đại hơn, như là sự vươn ra hai đầu của nền tảng văn hóa cho nghệ thuật.

 

Nguyễn Quân, IPO trìu tượng, mực + giấy+sơn dầu, 2008


Đổi mới là một thời điểm dân tộc quyết định sự thay đổi để giải quyết những bế tắc xã hội, hậu quả của chiến tranh và kinh tế Bao cấp lâu dài, tất nhiên có những điểm khác hoàn toàn với Cải tổ của Liên Xô cũ đã diễn ra trước đó dẫn đến những thay đổi căn bản ở các nước thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu. Thể chế chính trị ở Việt Nam vẫn ổn định, chỉ có những vấn đề xã hội được thay đổi và những vấn đề ấy luôn bộc lộ hai mặt của quá trình phát triển. Giới mỹ thuật cũng không năm ngoài việc đó. Những khát vọng dân chủ và một đời sống no ấm hơn, muốn hòa nhập với đời sống nghệ thuật thế giới, sự kết nối giữa cội nguồn văn hóa dân tộc và chủ nghĩa Hiện đại (Modern Art) đã dẫn đến những thành công của hội họa tích tụ trong hơn ba mươi năm. Những khi đời sống bớt khó khăn, tự do đến với chủ nghĩa Hiện đại, có một thị trường ở quy mô nhỏ, mỹ thuật dường như lãng quên khát vọng của mình và co lại những triển lãm nặng về hình thức. Những nghệ sỹ đi đầu của cuộc Đổi mới rút về xưởng vẽ của mình, vài người tham gia vào những cuộc phiêu lưu mới của các nghệ sỹ trẻ hơn Đương đại.    


P.C.T