Thái Nhật Minh với Chinh Phu-Chinh Phụ, câu chuyện không hề cũ

Nguồn:

Vũ Lâm 01/06/2016



Cuối tháng tư này (từ 23 tới 27 - 4), có một triển lãm lớn của một nhà điêu khắc trẻ có tên là “Chinh phu – Chinh phụ” diễn ra tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, 66 Nguyễn Thái Học, Hà Nội. Đây là triển lãm cá nhân lần thứ ba của Thái Nhật Minh, và cũng là triển lãm được chuẩn bị công phu nhất của anh, tới 4 năm (2013 – 2016). Tuy chỉ được bày trong 5 ngày, nhưng “Chinh phu - Chinh phụ” là một bước đĩnh đạc của Thái Nhật Minh bước vào hàng các tên tuổi đáng nhớ của các tác gia điêu khắc trẻ đương đại…

Nghệ sỹ điêu khắc Thái Nhật Minh sinh năm 1984 tại Lập Thạch, Vĩnh Phúc và tốt nghiệp Khoa Điêu khắc, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, năm 2009, nhưng ngay từ năm thứ hai đại học, Minh đã tham gia sáng tác và sau này, tác phẩm đó đoạt giải Khuyến khích của Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc (2006 -2010). Kể từ đó, ngoài các triển lãm nhóm trong và ngoài nước, tác phẩm của Minh liên tục nằm trong các “top” giải thưởng trong các triển lãm điêu khắc, Festival Mỹ thuật trẻ toàn quốc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức. Trong 4 năm liên tiếp anh còn đưa ra 3 triển lãm cá nhân công phu, triển lãm nọ gối đầu công việc lên triển lãm kia, là “Những con chim” (2013), “Mùa sinh sản” (2014), và triển lãm “Chinh phu - Chinh phụ” cuối tháng 4 - 2016 này. Ngược lại với xu hướng làm những tác phẩm đơn lẻ có kích thước lớn, Minh sáng tác một chùm những tác phẩm nhỏ có chung một chủ đề, bám sát một ý tưởng có câu chuyện, chú trọng sự chau chuốt hoàn hảo của chi tiết và phối hợp với cấu trúc không gian nơi đặt để. Điều đó không chỉ cần đến một tư duy điêu khắc thông thường, mà cả nhiều phương pháp tư duy tạo hình chuyên biệt, cũng như liên tục quan thiết tới các vấn đề của cuộc sống đương đại.


 


 
Như lời tự bạch giới thiệu triển lãm đã nêu đầy đủ câu chuyện sáng tác của “Chinh phu - Chinh phụ”: “Việt Nam, một đất nước trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh tự vệ, trong suốt hàng ngàn năm lịch sử với những câu chuyện về những người lính ra đi mãi mãi không trở về, những người phụ nữ ôm con ngóng đợi người đi mỏi mòn, biến thành những “Hòn vọng phu” trên khắp đất nước.” Hình tượng “Chinh phu - Chinh phụ” là một hình tượng khá phổ biến trong văn học cổ điển và âm nhạc. Được lưu danh qua những tác phẩm của các tác giả nổi tiếng như Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm; Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Lê Thương… Ngoài đời sống, cứ một hòn đá hay hòn núi nhỏ nào có dáng hình giống bà mẹ ôm con, là sẽ được tự nhiên gọi một cách dân gian hóa là “hòn vọng phu”. Dáng hình của người thiếu phụ, ôm con chờ chồng, có lẽ đã khắc sâu vào tâm khảm và tình cảm của con người như một biểu tượng cô đọng nhất của ước mong bất tử hướng về hạnh phúc, về hòa bình. Điều đó cũng là lời “tố cáo ngược” mạnh mẽ nhất đối với sự bất nhân văn của chiến tranh, chia ly, xa cách… Lấy cảm hứng từ những “đá vọng phu” dân gian trên cả chiều dài đất nước đó, Thái Nhật Minh tạo ra 63 khối tượng “Vọng phu” bằng đá muối trắng dựng trên những bệ bằng sắt đen, giống như những cái bóng đơn côi lạnh lẽo. Chất liệu đá trắng được tác giả dùng để gợi nên những phẩm chất của người thiếu phụ vọng phu: trong trắng, tinh khiết, cứng rắn những cũng dễ tổn thương, gẫy vỡ. Còn chiếc bóng đen đằng sau, còn có thể liên tưởng đến những câu chuyện bi kịch kiểu như Chuyện người con gái Nam Xương… 63 khối tượng này được tác giả gắn lên tường, trải ngang dằng dặc suốt chiều dài phòng triển lãm.
Còn hình tượng Chinh phu, tác giả cũng dành cho hình tượng này một công phu điêu khắc tốn không ít thời gian.



Anh tạo hàng trăm khối tượng nhỏ bằng nhôm đúc, thành những đoàn quân với vũ khí thô sơ, được đặt lên những dàn gỗ đen tạo hình như những mũi lao lớn, để lao đi như một định mệnh trong trò chơi ác nghiệt. Thể hiện cả tính chất của những cuộc chiến tự vệ với sự hy sinh liên tục triền miên. Những đoàn quân ấy mới ra đi thì đứng thẳng, phủ mầu đồng đầy sức sống hăng hái. Đến cuối cuộc chơi định mệnh, là một sa trường trắng toát, chỉ còn những khúc tượng bị cắt rời xanh xám ngổn ngang. Sáng tạo sắp đặt với những mũi lao gỗ của Thái Nhật Minh, vừa gợi lại ký ức của lịch sử, những mũi tên đồng Cổ Loa, cọc Bạch Đằng… vừa có tác dụng  bứt phá tạo một không gian ảo xuyên suốt đầy phá cách giữa hai phòng triển lãm. “Chinh phu” thì có hồi kết, còn những người “Chinh phụ” thì không có hồi kết… tất cả gây nên sự ám ảnh và gợi cho người xem vô vàn cảm xúc từ quá khứ đến hiện tại của con người, của dân tộc.
Thành công của Thái Nhật Minh trong triển lãm “Chinh phu - Chinh phụ” vừa qua có mấy nét. Nhưng điều đầu tiên đáng kể phải nhắc tới là việc tuy tác giả thuyết trình về câu chuyện một cách minh bạch và chi tiết bằng ngôn ngữ văn tự, mà khi xem ngôn ngữ tạo hình, không cảm thấy đó là một sự diễn dịch từ câu chuyện văn học sang câu chuyện của mỹ thuật. Tác giả giới thiệu ngắn gọn câu chuyện về triển lãm của mình trong vòng một trang giấy, để người xem, ai cũng có thể hiểu chuyện một cách rõ ràng và nhanh chóng. Nhưng nếu giả dụ bỏ đi phần lời này, chỉ đề tên triển lãm và những hình tượng không, thì cũng không ảnh hưởng tới việc cảm thụ trực quan. Là nghệ thuật tạo hình thì dù có “cốt truyện” hay không có cốt truyện, chỉ phản ánh các trạng thái, nhiều khi lưỡng cực, mâu thuẫn cùng tồn tại thì quan trọng trước hết là ngôn ngữ tạo hình phải rõ rệt, tạo cảm xúc mạnh.


 


 
Thành công thứ hai của Minh là nghệ thuật tổ chức không gian trong việc việc kiến tạo được trạng thái bằng những tìm tòi sắp đặt, tổ hợp điêu khắc trong một cấu trúc không gian giới hạn. Ở triển lãm đầu tiên, triển lãm nói về tự do có tên “Những con chim” (2013) cũng tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Minh đã manh nha với  ý thức chiếm lĩnh không gian bằng những đường nét phụ trợ, nhưng hơi có tính miêu tả một cách đơn giản. Ở triển lãm thứ hai “Mùa sinh sản” tại Manzi (2014) và một loạt những triển lãm cùng nhóm Newform cũng tại đây và một số địa chỉ khác, Minh thử nghiệm thêm việc tổ chức không gian và dùng những đơn vị tượng của mình như các mô-đun sắp đặt để liên kết các mảng không gian trong, ngoài, diện đứng, bề mặt…tạo những hiệu ứng cảm giác như “khâu” được các mảnh không gian vào với nhau, trong đó hình tượng điêu khắc của anh đi xuyên qua và vận động một cách uyển chuyển, thoải mái. Cho đến triển lãm “Chinh phu - Chinh phụ” này, Minh có một bước tiến dài sau một quá trình rèn luyện việc tổ chức không gian để nổi bật ý đồ tạo hình, tương xứng với bốn năm công phu chuẩn bị. Đó là việc đặt cụm tượng lặp gắn trên các dàn lao gỗ sơn đen, nhọn đầu (có hướng), dựng trên bệ bốn chân hoặc treo (phòng thứ nhất). Nếu như các cụm tượng liên hoàn này phát triển theo chiều dọc đứng, thì dàn gỗ phát triển theo chiều ngang. Cộng với cách đánh sáng tạo bóng dưới nền, trên tường làm cho hiện ra nhiều lớp đường nét xung đột vừa thực, vừa ảo cắt nhau rất mạnh và choán đầy, phá giải. Điều đó làm ta cảm giác được sự xung động mạnh mẽ, dữ dội của chiến tranh. Phòng thứ hai, để nói về câu chuyện hậu chiến, thì gần như trống, chỉ có ít ỏi số mũi lao (giả tưởng) xuyên qua. Tượng chiến binh bị cắt rời đầu, thân, nhìn lốm đốm trên một mặt phẳng trắng (sàn). Hình tượng chinh phụ và bóng như những nốt đen đậm vẫn trải dài liên tiếp trên tứ diện trắng. Có thể nói, sang phòng bên này, câu chuyện tạo hình được chuyển mạch từ đặc kịt, xung đột sang rỗng, trống, vắng, lạnh. Và hai sắc trắng – đen có hiệu quả chủ đạo, câu chuyện được tiếp nối liền mạch và có sức ám ảnh trong sự tĩnh lặng. Đó là sự nhuần nhuyễn của việc kết hợp tư duy điêu khắc và tư duy design kiến trúc trong tạo hình.


 


 
Như xu hướng sáng tác của tác giả bấy lâu nay, thì anh không chọn cách làm các tượng với khối đơn có kích thước lớn, mà chọn làm những chùm tác phẩm nhỏ có chung một chủ đề, bám sát một ý tưởng có câu chuyện, chú trọng sự chau chuốt của chi tiết để rồi tương tác với cấu trúc không gian nơi đặt để. Có lẽ tượng “Một mình” trên Flamingo Đại Lải, kích thước 4,8m x 2,6m x 1,5m là tượng lớn nhất của Minh từ trước tới nay. Với xu hướng và cách thức tạo không gian như vậy, thì trong triển lãm “Chinh phu - Chinh phụ” lần này, từng đơn vị tượng lẻ thì không có ý nghĩa. Số tượng nhôm đúc khoảng vài trăm tác phẩm chỉ cao khoảng 20cm, còn số tượng đá trắng (chắc lấy nhiều công phu gọt đẽo nhất của tác giả) cao dưới 20cm. Cũng nên lưu ý thêm một điểm, đó là số kinh phí đầu tư của tác giả bỏ ra ngoài công sức, thì hoàn toàn là tiền túi, không có tài trợ nào, cũng là có hạn. Nhất là một tác giả còn trẻ, chưa có mấy nhiều điều kiện như Thái Nhật Minh. Nên việc phóng tượng cho kích thước lớn hơn, tương xứng với ý đồ tạo hình, cũng không phải là một việc dễ dàng.    

V.L

(Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số tháng 5/2016)

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)