Tư duy nghệ thuật và ý thức xã hội

Boris Groys (Phạm Long lược dịch) 28/07/2017


Giáo sư Boris Groys là học giả, triết gia, chuyên gia hàng đầu về nghệ thuật Nga và các nước  Slavơ tại Đại học New York, đồng thời ông cũng là nhà nghiên cứu cao cấp tại Đại học Nghệ thuật và Thiết kế Karlsruhe. Dưới đây là bài phỏng vấn ngắn của phóng viên tạp chí ArtReview trao đổi với giáo sư Boris Groys về tư duy nghệ thuật và phê bình nghệ thuật đương đại trong bối cảnh toàn cầu hóa.

 

Bùi Thanh Thủy, Miên du, 2015, sơn dầu trên toan

 

Hỏi: Theo giáo sư, nghệ thuật đương đại có đóng vai trò nào không trong việc định hình phát triển kinh tế và xã hội? Nó chỉ nên đơn thuần làm công việc mô tả hoặc diễn giải các sự kiện, hoàn cảnh hay cần phải tìm cách thúc đẩy sự chuyển biến xã hội?

Boris Groys: Tôi thấy không có mâu thuẫn gì ở đây. Thế giới đương đại có đặc điểm là số lượng hình ảnh được các phương tiện truyền thông đẻ ra tăng lên hàng ngày với tốc độ chóng mặt. Nền chính trị công và thái độ cá nhân ngày nay được truyền bá chủ yếu thông qua hình ảnh và ngôn ngữ thị giác. Bằng cách phân tích và diễn giải mang tính phê phán ngôn ngữ thị giác đó, nghệ thuật có thể ảnh hưởng sâu sắc đến các hành vi xã hội và chính trị của chúng ta - và do đó, ảnh hưởng đến sự phát triển của thế giới nói chung. Song, tất nhiên, nghệ thuật có thể tham gia trực tiếp vào việc sản tạo hình ảnh đó – và như vậy, trở thành một kiểu đồ án chính trị. Cả hai khả năng này không nhất thiết phải đối lập với nhau. Trong thực tế, phần lớn các thực hành nghệ thuật đều là sự tích hợp của cả hai khả năng đó.

 

Lê Anh Quân, Đứa bé gái, 2014, acrylic trên toan


Hỏi: Nghệ thuật đương đại ngày càng có tính “bảo tàng hóa”, như vậy phải chăng nó đang ngày càng xa rời cuộc sống đời thường, thưa giáo sư?

BG: Phải rồi, nhưng tôi thấy điều đó lại là một phát triển tích cực. Để phân tích được việc sản xuất ra những hình ảnh đương đại và can thiệp vào nền sản xuất này thì nghệ thuật cần giữ một khoảng cách nhất định với cuộc sống thường nhật. “Bảo tàng hóa” nghệ thuật có liên quan đến khái niệm “sưu tập vĩnh viễn”, điều đó mang lại khả năng lưu giữ các tác phẩm nghệ thuật vĩnh cửu, hoặc chí ít cũng tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, các bộ sưu tập vĩnh viễn ngày càng giảm khi số lượng các viện bảo tàng nghệ thuật đương đại tăng dần. Các bảo tàng nghệ thuật đương đại là những nhà hát trình diễn những vở diễn của cuộc sống đương đại, được tổ chức với những hình thức luôn sinh động và tươi mới.

 

Hà Trí Hiếu, To Mr. Ha Tri Hieu, 2004, mực và bút sắt trên giấy. 

 

Hỏi: Vì các curator ngày càng có nhiều ảnh hưởng tới việc đánh giá nghệ thuật và bối cảnh lý thuyết của nó - ví dụ như thông qua các sự kiện nghệ thuật thường niên, lưỡng niên, vân vân, vậy theo ông, nghệ thuật đã chuyển biến đến mức nào để có thể trở thành một lĩnh vực trọng yếu của triết học? Hoặc giả, trong trường hợp nếu một đối tượng/tác phẩm nghệ thuật không được trưng bày/bộc lộ thì liệu nó có tồn tại hay không?

BG: Nghệ thuật có để trở thành lý thuyết, hay nói cách khác, trở thành triết học, nếu nó có khát vọng vượt qua những biên giới văn hóa – nơi sản sinh ra nó. Dự án triết học là dự án phổ cập. Một khi nghệ thuật tham gia vào dự án này, nó sẽ trở nên được toàn cầu hóa. Mặt khác, bản thân việc thực hành triết học ngày càng mang tính trình diễn nhiều hơn, và đặc biệt còn nhiều hơn nữa trong những thập kỷ gần đây, do đó, ngày càng giống với các thực hành nghệ thuật. Cả hai hoạt động, nghệ thuật và triết học, đều là những hoạt động mang tính công khai. Chúng có ý nghĩa chỉ khi chúng được thực hành với mục tiêu không bí mật, công chúng có thể tiếp cận một cách công khai. Vì vậy, vai trò của curator trong việc kiểm soát và đảm bảo khả năng nghệ thuật tiếp cận được với công chúng thực sự là rất quan trọng.

 

Doãn Hoàng Kiên, ID code, 2016, tóc, lọ thuỷ tinh, giấy in mã vạch. 

 

Hỏi: Có một sự khác biệt giữa phê bình nghệ thuật và lý thuyết nghệ thuật? Có lẽ cũng đáng chú ý là trong những bản ‘Danh sách 100 nhân vật quyền lực nhất của thế giới nghệ thuật’ gần đây có khá nhiều các lý thuyết gia nghệ thuật song vắng bóng hoàn toàn các nhà phê bình. Phê bình nghệ thuật thực sự đã chết rồi chăng? Hay lý thuyết đã nhanh chóng trở thành một thứ chức năng bị công cụ hóa bởi thế giới nghệ thuật? Ông có thấy nơi nào nằm ngoài giới hàn lâm dành chỗ cho phê bình nghệ thuật độc lập không?

BG: Phê bình nghệ thuật truyền thống dựa vào sự phán xét thẩm mỹ - một sự phán xét dựa trên thị hiếu thẩm mỹ đã được trau dồi nhất định. Tôi không tin rằng việc phê bình như thế có một vị trí trong thế giới đương đại của chúng ta ngày hôm nay, bởi vì mỗi kiểu thị hiếu nhất thiết phải được định vị về mặt văn hóa, và do đó, được phân biệt với các nền văn hóa khác. Phê bình đương đại phải dựa trên các học thuyết [mới], có những đòi hỏi về tính phổ quát và được lập luận giàu tính triết học – hay chỉ đơn giản là vô nghĩa (tất nhiên như thế là không có “học thuyết” hoặc “triết lý”). Mà thế giới đương đại luôn có vô số học thuyết và diễn ngôn triết học khác nhau, mâu thuẫn với nhau. Triết học không mang lại hòa bình, mà là đấu tranh. Không có bất kỳ chỗ nào dành cho thứ phê bình nghệ thuật “khách quan”, phê bình nghệ thuật “trung lập”.

 

Nguyễn Ngọc Lâm, Chồi, 2016, inox hàn


Thế giới nghệ thuật ngày nay không phải là một nơi yên bình, mà là một sàn đấu của các ý thức hệ. Chính điều đó, nói chung, khiến cho nghệ thuật trở nên thú vị.

 

P.L(Nguồn: ArtReview, 11/2012)

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)