YẾU TỐ MÀU SẮC VÀ HÌNH THỂ TRONG TRANH CHÂN DUNG SƠN DẦU VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975 – 1995

Đỗ Hoàng Anh 23/08/2016


Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới. Mỹ thuật Việt Nam giai đoạn 1975 -1995 cũng đã góp phần đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử mỹ thuật của cả nước.

Tình hình đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, hoàn toàn độc lập và bước vào thời kì mới với nhiều khó khăn thử thách, song tinh thần làm việc, sáng tác không ngừng của các họa sỹ vẫn được hun đúc. Chủ đề chủ yếu mà các họa sỹ tập trung vào đó là xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, nhưng trong đó vẫn có mảng về tranh chân dung mà ít ai để ý đến.

Theo Từ điển tiếng Việt - Nxb Khoa học xã hội chân dung là: “Hình của một người chụp hoặc vẽ ra” . Còn trong cuốn Từ điển mỹ thuật phổ thông - Nxb Mỹ thuật, chân dung là: “Hình ảnh nhân vật được diễn tả nổi bật đặc điểm riêng, nhất là gương mặt. Vẽ giống người mẫu là một trong những tiêu chí hàng đầu của tranh chân dung. Loại tranh này có thể được vẽ trực tiếp trước người mẫu hoặc có thể vẽ theo trí nhớ của họa sỹ hoặc ảnh chụp. Tranh chân dung thường vẽ từ đỉnh đầu đến giữa ngực nhưng vẽ mặt người là chính, cũng có khi vẽ nửa người hoặc cả người” ]. Có thể nói, đây là một khái niệm đầy đủ. Khái niệm đã giải thích rõ ràng vấn đề tranh chân dung.

Màu sắc và hình thể là những yếu tố tạo hình trong hội họa, nổi bật và dễ dàng nhận thấy. Trong một tác phẩm chân dung sơn dầu, hình thể giúp người xem định hình được những nét riêng của nhân vật, từ đó thấy được đặc điểm riêng của nhân vật. Còn màu sắc là một trong số những yếu tố quan trọng, nó góp phần mang lại cảm xúc cho người xem - hay còn gọi đó là chất cảm. Màu sắc cũng là yếu tố rất nổi bật và thu hút. Những yếu tố tạo hình này kết hợp với nhau và các yếu tố khác sẽ tạo nên hiệu quả về tổng thể cho một bức tranh. Ở giai đoạn 1975 - 1985, yếu tố hình thể mang tính hiện thực, đến giai đoạn 1986 - 1995, hình thể trong tranh đã có sự thay đổi, không lệ thực. Đó là do ảnh hưởng của các trường phái hội họa nước ngoài khi đất nước mở cửa hội nhập như Biểu hiện, Trừu tượng, Lập thể, Siêu thực... Chúng ta có thể nhận thấy điều đó qua các tác phẩm sau đây.

Đầu tiên nói về hình thể trong tranh chân dung sơn dầu giai đoạn 1975 - 1985. Tác phẩm Chân dung ông Đức Minh - 1976, được họa sỹ Nguyễn Sáng thể hiện hình thể khỏe khoắn. Tác giả đã khắc họa rất thành công chân dung nhân vật trong một trạng thái nghiêm nghị, thư thái. Đó chính là một trong những yếu tố thành công của một tác phẩm chân dung. Tác phẩm Tự họa - 1978 - sơn dầu - 100x75cm, họa sỹ Lê Huy Tiếp đã cho người xem một chân dung chân thật với bút pháp tả thực. Cụ thể là nhân vật ngồi trước một chiếc bàn trong một trạng thái suy tư. Chúng ta biết được điều đó là vì hình dáng của nhân vật đang chống tay xuống bàn, hai bàn tay đan nhau trước miệng, đôi mắt nhìn xa xăm. Trên mặt bàn có một số thứ đồ, một bông hồng, một bản vẽ phác thảo, một chiếc bút chì. Cộng với đó là không gian đằng sau nhân vật, một bức tranh dân gian cá chép trông trăng ở góc phải và một bờ biển với bãi cát và ánh trăng mờ xanh lạnh. Tất cả các yếu tố hình thể đó đã cho ta thấy tâm trạng của nhân vật đang trăn trở về điều gì đó.

 

Nguyễn Sáng, Chân dung ông Đức Minh, 1976, sơn dầu

 

Lê Huy Tiếp, Chân dung tự họa, 1978, sơn dầu, 100x75cm

 


Tác phẩm Chân dung cô Mai - 1980 - sơn dầu - 46x35cm, của họa sỹ Dương Bích Liên đã có những cái mới trong cách tạo hình. Ta không thấy sự chân thực về hình dáng của cô gái, mà hình thể đã có sự cách điệu, giản lược. Sự cách điệu và giản lược không hẳn là làm biến dạng hoàn toàn nhân vật, ta vẫn có thể thấy được chân dung của cô gái với đôi môi hồng cam tươi thắm nổi bật trên nước da xanh xám. Phần từ cổ nhân vật xuống dưới được gợi tả bằng hình của mảng màu. Có thể thấy, tác giả đã gợi tả thành công trạng thái của nhân vật, đồng thời ta cảm thấy có cảm xúc của tác giả lẩn khuất trong đó.

 

Dương Bích Liên, Cô Mai, 1980, sơn dầu, 46x35cm

 


Sang giai đoạn 1986 - 1995, với sự hội nhập quốc tế về mọi mặt, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, nền mỹ thuật Việt Nam đã có những bước tiến mới trong sáng tác, cũng như tạo hình. Và tranh chân dung sơn dầu cũng không nằm ngoài sự chuyển biến này. Tác phẩm Chân dung tự họa - 1988 - sơn dầu - 58x72cm  của họa sỹ Nguyễn Xuân Tiệp là một ví dụ. Về yếu tố hình thể, tác giả đã bỏ qua hình ảnh hiện thực để đi đến một hình ảnh tượng trưng, đơn giản, mà súc tích. Những đặc điểm không mất đi, vẫn giữ được thần thái và tính cách nhân vật - là chính tác giả - đang cầm điếu thuốc trầm ngâm. Khói thuốc lá bay quẩn quanh nhân vật mang đầy tâm trạng. Tác phẩm Tự họa - 1988 - sơn dầu - 33x26cm, họa sỹ Hoàng Hồng Cẩm đã cho người xem ấn tượng về một chân dung với cấu trúc hình khỏe khoắn, mạch lạc. Ở tác phẩm này, họa sỹ tự họa chân dung với một cảm xúc và tình cảm cá nhân tác giả. Vì thế nên ta có thể thấy cấu trúc hình thể, màu sắc, bố cục đều không mang tính tả thực, nhưng ta lại có thể cảm nhận nội tâm và cá tính của nhân vật.


Nguyễn Xuân Tiệp, Chân dung tự họa, 1988, sơn dầu, 58x72cm

 

Hoàng Hồng Cẩm, Chân dung tự họa, 1988, sơn dầu, 33x26cm

 


Một tác phẩm của họa sỹ Bùi Quang Ngọc sáng tác năm 1990, tác phẩm Chân dung họa sỹ Nguyễn Gia Trí vẫn mang đặc điểm nổi bật của nhân vật qua các tạo hình cá tính. Hình thể nhân vật được tác giả khái quát khúc triết bằng nét đen, kết hợp với các yếu tố màu sắc đơn giản, mạnh mẽ toát lên tinh thần nhân vật. Hay như tác phẩm Chân dung nhà thơ Lê Đại Thanh - 1994 - sơn dầu - 70x88cm của họa sỹ Lê Đại Chúc, với cách sử dụng hình thể hơi cường điệu phần vai và người để tạo nên bố cục tranh, nhân vật hiện lên với thần thái điềm tĩnh, đôi mắt nheo nheo như chói nắng. Tác phẩm Nhạc sỹ Văn Cao - 1994 - sơn dầu - 60x75cm của họa sỹ Văn Hải đã khắc chân dung của nhạc sỹ Văn Cao rất tự nhiên chỉ bằng đường nét, hình thể. Yếu tố màu sắc chỉ mang tính gợi tả, điều đó thể hiện sự đơn giản trong tác phẩm, đồng thời ta cũng cảm thấy nét giản dị trong con người của nhân vật. Tác phẩm Bé Phương - 1995 - sơn dầu - 60x45cm của tác giả Lê Thanh Minh lại mang một tính chất hoàn toàn khác với các tác phẩm trên. Các tác phẩm vừa nêu trên hầu như đều mang tính gợi tả. Còn ở tác phẩm này, chân dung nhân vật được khắc họa chân thực qua bút pháp tả thực. Từ hình thể, đường nét, màu sắc đều hiện thực. Tác phẩm cho ta thấy một bé gái với gương mặt bầu bĩnh, buộc tóc cao chỏm, đôi mắt mở to đang nhìn về người xem. Tác giả đã khéo léo cho người xem cảm giác chân thật khi nhìn vào tác phẩm.

 

Bùi Quang Ngọc, Chân dung họa sỹ Nguyễn Gia Trí, 1990, sơn dầu

 

Lê Đại Chúc, Chân dung nhà thơ Lê Đại Thanh, 1994, sơn dầu, 70x88cm

 


Qua một loạt các tác phẩm ta có thể thấy, yếu tố hình thể trong các tác phẩm hội họa sơn dầu Việt Nam giai đoạn 1975 - 1995 mang nhiều nét thay đổi. Hình thể không nhất thiết phải rõ ràng một cách cứng nhắc, mà thông qua cảm xúc, hình thể trong cách tạo hình chân dung hội họa sơn dầu có sự thay đổi để thể hiện được cảm xúc của tác giả đối với nhân vật.

 

Văn Hải, Nhạc sỹ Văn Cao, 1994, sơn dầu, 60x75cm


Lê Thanh Minh, Bé Phương, 1995, sơn dầu, 60x45cm

 

`

Thứ hai là về màu sắc. Màu sắc đóng một phần quan trọng vào việc làm nổi bật nhân vật, màu da, tóc, quần áo... Màu sắc trong tranh chân dung sơn dầu giai đoạn 1975 - 1985 chủ yếu mang ảnh hưởng của tính cách nhân vật. Tác phẩm Chân dung ông Đức Minh - 1976 - sơn dầu của họa sỹ Nguyễn Sáng sử dụng một gam màu nâu ấm nóng, thể hiện một nhân vật có nét trững trạc, cùng với việc sử dụng cách tạo hình dáng ngồi vuông vức, vẻ mặt nghiêm nghị càng thể hiện một chân dung người đàn ông trưởng thành và có địa vị, vai trò trong xã hội. Tác phẩm Trước giờ đi học - 1978 - sơn dầu của họa sỹ An Chương. Tác phẩm thể hiện rõ một cậu bé độ tuổi cấp một, đội chiếc mũ vàng, quần áo đã tươm tất, tay cầm chiếc cặp sách. Ta có thể thấy nhân vật được tác giả thể hiện rất hồn nhiên với gam màu tươi sáng, cách thể hiện thoáng đạt nhờ bút pháp thoải mái, những mảng màu phẳng gợi cảm giác yên bình và trong sáng.

 

An Chương, Trước giờ đi học, 1978, sơn dầu

 


Tác phẩm nổi tiếng - Em Thúy - 1943 - sơn dầu - của họa sỹ Trần Văn Cẩn cho ta thấy chân dung nhân vật được thể hiện rất tài tình. Tác phẩm Thúy Nga - 1979 - sơn dầu - 45x36cm, một lần nữa, họa sỹ lại cho ta một cảm giác dễ mến với nhân vật của ông. Một em bé mặc một chiếc áo bông hay đang khoác chiếc chăn con công ngày xưa, với đôi mắt to đen, má phúng phính hống hào, đôi môi hồng cam mọng. Đằng sau là một bức tranh lụa vẽ hoa đào, hay một loài hoa nào đó đang nở hồng mát trên những cành đậm khẳng khiu. Thông qua màu sắc của toàn bộ tác phẩm cho ta cảm nhận thấy không khí của mùa xuân bao trùm. Hay như tác phẩm Cháu Hoàng - 1981 - sơn dầu - 40x50cm, họa sỹ Trần Tuy sử dụng màu và khung nền đằng sau là những mảng màu vàng, xanh, đỏ, trắng. Nhân vật có gương mặt trái xoan với dáng ngồi so vai, màu sắc mang tính gợi tả, chưa phải tả chân nhưng ta vẫn có thể thấy được một cách chân thực nét mặt, tâm trạng của nhân vật.

 

Trần Văn Cẩn, Thúy Nga, 1979, sơn dầu, 45x36cm

 

 

Ở giai đoạn giai đoạn 1975 - 1985, màu sắc cho ta cái nhìn chân thực về nhân vật, và lẩn khuất trong đó có tình cảm của tác giả, nhưng cảm xúc của tác giả biểu hiện trong tác phẩm rất ít. Đến giai đoạn 1986 - 1995, màu sắc thực sự không chỉ biểu đạt được chân dung nhân vật, mà còn thể hiện rõ nét cá tính, tình cảm của người vẽ. Tác phẩm Chân dung họa sỹ Trần Văn Cẩn - 1989 - sơn dầu, họa sỹ Huy Oánh đã sử dụng màu sắc rất nhã nhặn, toát lên sự điềm đạm của nhân vật. Hay như màu sắc trong tranh của họa sỹ Bùi Quang Ngọc, tác phẩm Chân dung họa sỹ Nguyễn Gia Trí được tác giả sử dụng màu sắc gam nóng mạnh mẽ với mảng hình chắc chắn, đó như tình cảm của tác giả dành cho nhân vật.

 

Huy Oánh, Chân dung họa sỹ Trần Văn Cẩn, 1985, sơn dầu

 


Hay như màu sắc nhã nhặn trong tranh của họa sỹ Nguyễn Trung, tác phẩm Sen trắng - 1990 - sơn dầu - 100x100cm, họa sỹ mượn hình ảnh hoa sen trắng để nêu bật được ý nghĩa muốn truyền tải. Đó là sự thanh cao, thuần khiết, và cụ thể hơn là một cô gái đang ôm bó sen. Chân dung nhân vật được tác giả sử gợi tả đơn giản, càng làm tăng tính giản dị, thuần khiết của nhân vật. Cũng nhân vật với hoa, tác phẩm Thiếu nữ - 1994 - sơn dầu - 75x85cm, họa sỹ Trần Lê Hằng đã sử dụng màu sắc khá nổi bật cho nhân vật của mình. Một cô gái trong tà áo dài xanh ngồi bên cạnh một bình hoa cúc trắng, đằng sau là bức tường đỏ với khung cửa sổ nhìn ra ngoài cảnh vật nhà cửa, cây cối. Hay rực rỡ hơn, mạnh mẽ hơn có tác phẩm Chân dung con gái - 1995 - sơn dầu - 65x55cm, họa sỹ Hoàng Hồng Cẩm thể hiện tình yêu của mình nồng cháy bằng màu đỏ rực. Màu da của nhân vật trắng muốt đơn sắc như nguyên màu của mặt toan, như thể hiện sự ngây thơ như tờ giấy trắng. Hình cũng được chắt lọc và giản lược. Ta có thể thấy cảm xúc, tình cảm của tác giả đã lấn át hoàn toàn về chân dung thật sự của nhân vật.

 

Nguyễn Trung, Sen trắng, 1990, sơn dầu, 100x100cm

 


Qua các tác phẩm được nêu trên đây ta có thể thấy được sự chuyển biến về hình thể và màu sắc, những biểu hiện của yếu tố tạo hình trong các tác phẩm chân dung sơn dầu giai đoạn 1975 - 1995. Hay nói cách khác, đó là những yếu tố chính để thể hiện quan niệm, tư duy của họa sỹ thể hiện trên tác phẩm, thông qua tác phẩm để truyền tải nội dung. Đối với tranh chân dung giai đoạn 1975 - 1985, việc thể hiện quan niệm của tác giả không được thể hiện rõ, mà cái được biểu hiện chính là tâm trạng, cảm xúc của nhân vật. Còn đến giai đoạn 1986 - 1996, họa sỹ không muốn trói buộc mình mà muốn tìm tòi cái mới, cách thể hiện mới, đó chính là đưa cảm xúc và quan điểm của mình vào trong ý tứ tranh.

Tranh chân dung đã chiếm một vị trí đáng kể trong sáng tác của các họa sỹ. Vì vậy mỗi tác phẩm chứa đọng rất nhiều cảm xúc không chỉ của tác giả mà cả của nhân vật được vẽ trong tranh. Họa sỹ nắm bắt được những đặc điểm của thể loại tranh chân dung sơn dầu, các họa sỹ đã khai thác và tìm tòi cái mới, cách biểu hiện mới. Tranh chân dung sơn dầu giai đoạn 1975 - 1995 có nhiều sự chuyển biến mới mẻ góp phần vào thành công chung của nền hội họa sơn dầu Việt Nam.

Đ.H.A

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)