GIANLORENZO BERNINI - Niềm đam mê trên đá

Trong sự nghiệp của mình, Bernini đã làm được một số lượng tác phẩm khổng lồ, mà về tượng có các kiệt tác như Aeneas, Anchises và Ascantus (1619), Vụ cưỡng đoạt Proserpine (1621-22), Apollo và Daphne (1622-25), David (1623-24), Khoảng khắc đê mê của St. Theresa (1647-52)...;

Trong sự nghiệp của mình, Bernini đã làm được một số lượng tác phẩm khổng lồ, mà về tượng có các kiệt tác như Aeneas, Anchises và Ascantus (1619), Vụ cưỡng đoạt Proserpine (1621-22), Apollo và Daphne (1622-25), David (1623-24), Khoảng khắc đê mê của St. Theresa (1647-52)...; về kiến trúc có Quảng trường Piazza San Pietro (1656-67), mặt tiền lâu đài Palazzo Berberini (1629-44), mộ Giáo hoàng Urban VIII (1642-58), cầu Ponte San Angelo (1668), các nhà thờ ở Castelgandolfo (1658-61) và Ariccia (1662-64)...; về tiểu cảnh có các đài phun nước Fontana del Tritone (Triton, 1642-43), Fontana delle Api (Những con ong, 1644), Fontana dei Quattro Fiumi (Bốn dòng sông, 1648-51)…

 

Tác phẩm David


Sinh ra trong một gia đình khá giả, cha là nhà điêu khắc nổi tiếng, nên từ nhỏ ông đã có điều kiện ăn học. Thế nhưng quan trọng hơn là ông đã được trời phú cho một tài năng hơn người. Bảy tuổi đã vẽ đẹp, tám tuổi biết tạc tượng. Một lần khi lên bảy, ông được đưa tới chỗ Giáo hoàng Paul V, và đã vẽ cho Ngài xem một bức chân dung của thánh Peter, nhận thấy đây sẽ là một nghệ sỹ giỏi giang trong tương lai, không thua các nghệ sỹ bấy giờ như Michelangelo, để phát huy năng khiếu của cậu bé, Ngài đã giao Bernini cho Hồng y Meffeo Barberini dạy dỗ. Khác với các bạn, ngay từ buổi đầu tiên, ông đã chứng tỏ mình là một học sinh sáng dạ khác thường. Mặc dù được học nghiêm luật song ông luôn làm mọi thứ khác đi và thường phá vỡ các quy luật về chế tác để khám phá cái mới, vì vậy đến năm 22 tuổi đã có nhiều tác phẩm đắt giá và là người được phép vẽ chân dung cho Giáo hoàng Paul V, 23 tuổi được Giáo hoàng Gregory XV phong hiệp sỹ, 25 tuổi được Giáo hoàng mời làm cố vấn -người bạn tin cậy, 31 tuổi trở thành kiến trúc sư trưởng xây dựng các công trình ở Nhà thờ St. Peter (Vatican).
Theo ghi chép của nhà văn cùng thời Filippo Baldinucci thì Bernini là một thanh niên khá điển trai, với mái tóc dày sẫm màu và một làn da ngăm đen. Tuy nhiên, nghệ sỹ không chịu được nắng và thường che chắn. Là một người dí dỏm, sôi nổi song Bernini cũng luôn say mê công việc. Ông đã từng ghi trên một tác phẩm rằng: Sẵn sàng cho đi mọi thứ, không ăn, không uống, không nghỉ (thậm chí không lấy vợ, sinh con) chỉ để sáng tác (con ông chính là tác phẩm của ông rồi!). Phải tới năm 41 tuổi, ông mới thành thân với một thiếu nữ kém ông một giáp trong một cuộc hôn nhân do nhà thờ sắp đặt, song hai người sống với nhau rất hạnh phúc và có 11 mặt con, trong đó người con trai út Domenico Bernini là nhà viết sử đầu tiên về ông.

 

Tác phẩm Apollo và Daphne


Bằng việc giao hòa giữa phong cách cổ điển huy hoàng của thời Phục Hưng và phong cách sống động đầy cảm xúc thời kỳ Kiểu cách, Bernini đã lập một kỷ nguyên mới trong lịch sử điêu khắc châu Âu, đem lại một cái nhìn khác lạ cho tác phẩm lịch sử và tôn giáo. Nghệ sỹ thường sáng tác dựa trên ranh giới giữa sự linh thiêng và trần thế. Trước Bernini, khi nhìn vào một tác phẩm cổ đại, người ta luôn thấy đó là những thần thánh, anh hùng có vẻ siêu phàm, thuần khiết, hồn nhiên đến lạnh giá. Các nghệ sỹ như Michelangelo luôn cho mình có nhiệm vụ phải gỡ ra từ khối đá những hình tượng lý tưởng và mong ước làm sao để biến người thường thành thần. Ngược lại, Bernini lại chú trọng đến con người thực đa dạng về dung mạo, phong phú trong tính cách, cử chỉ. Ông thường phá vỡ thế đứng vững chãi cho nhân vật chạy, nhảy, xoay vòng, la hét và khiến đá có thể cười và khóc. Các hình tượng của ông thường sôi nổi, vươn lên. Có thể thấy điều ấy qua chiếc cầu Ponte Sant ,Angelo ở Rome với các thiên thần có cánh rong ruổi về phía mặt trời. Rồi những hàng cột đồng đỡ mái vòm trên hầm mộ St. Peter quằn oại như muốn trỗi dậy bằng cơ thể sống của những con ong và tán lá xì xào trên bề mặt. Và bên dưới nơi có chiếc ngai Cathera Ptri của St. Peter, chiếc ngai có vẻ như một chiếc nệm khí bồng bềnh bay khỏi tay của 12 vị thánh tông đồ. Theo nhà văn Baldinucci, Bernini rất thích khoe diễn dưới tay ông đá cũng thành sáp mềm mại. Bằng việc hiểu cách ánh sáng phản chiếu trên bề mặt bóng và độ khắc nông sâu, ông còn có thể làm tượng toát mồ hôi và dùng những luồng sáng ngầm biểu lộ vẻ đẹp và tính kịch trong câu chuyện. Đó là lý do sau khi mất Bernini đã bị một số nghệ sỹ cho rằng ông là một thầy phù thủy, xảo trá, phải chịu trách nhiệm vì đã làm méo mó hình tượng tôn quý. Người ta chỉ trích ông bởi hai điều: quá nhiều cảm xúc và làm hỏng tính kiên định, liêm chính của đá khi biến đá thành ra các chất liệu như sắt, lông thú và da… khiến sự uy nghi, cao cả sụp đổ.

 

Tác phẩm Vụ cưỡng đoạt Proserpine


Một điều đặc biệt làm nên sự độc đáo trong phong cách của Bernini là ông luôn sử dụng con người thật và chính bản thân để khắc họa nhân vật (khác với nhiều người trước đó thường chỉ dùng trí tưởng tượng) và là một trong ba bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực thế kỷ 17 bao gồm Caravaggio và Rembrant vận dụng gương vào sáng tác, xem gương quan trọng như cọ, đục và bút chích. Mới 15 tuổi, Bernini đã có kiệt tác Sự quằn quại của San Lorenzo (1613), tượng của vị thánh tử vì đạo St. Lawrence. Ngài vốn là một thủ thư của giáo hội đầu tiên và đã bị thiêu sống trên giàn lửa. Để diễn tả tột cùng nỗi đau của nhân vật, Bernini đã đưa chân mình áp vào lò lửa và nhìn qua gương nhằm phác thảo những nét quằn quại trên khuôn mặt của chính ông để diễn tả khuôn mặt vị thánh, tuy nhiên ngoài vẻ đau đớn thì khuôn mặt St. Lawrence còn có những nét như mỉm cười sung sướng do Bernini khắc họa thêm một số chi tiết về Ngài qua thánh tích: Khi đang đau, một bên sườn đã cháy đen, St. Lawrence quay sang bảo lũ đồ tể rằng hãy lật Ngài sang nốt bên kia. Khi chúng làm vậy thì mùi thịt khét bỗng nhiên hóa thành làn hương ngọt ngào, khiến lỗ mũi của những kẻ ác phải phập phồng như ngửi được mùi bánh nướng, chúng sau đó hối cải và nhờ thế linh hồn được cứu vớt. St Lawrence từ lúc đó trở thành vị thánh đỡ đầu cho nghề nấu ăn. Bằng cả lý trí và nhục dục, Bernini đã ghi được hình ảnh tuyệt diệu của một vị thánh trong phút giây chuyển thế và nhắc lại nó 30 năm sau trên pho tượng Khoảng khắc đê mê của St Theresa. Các năm 20, một lần nữa ông lại cho ra các kiệt tác như Vụ cưỡng đoạt Proserpine (1621-22), Apollo và Daphne (1622-24) và David (1623-24) dùng chính dung mạo và hình thể của mình làm mẫu như mày trau, miệng mím hoặc há rộng, người dằng co biểu lộ những xúc cảm mạnh mẽ.
Khác với vẻ bình thản của các tượng Phục Hưng, mỗi tác phẩm của Bernini đều diễn tả cái động, sức mạnh và kịch tính. Trong khi David của Michelangelo là một người trong thế đứng hiên ngang lặng tờ, gồng mình tập trung mọi sức mạnh cho chiến đấu, thì chú bé chăn cừu David của Bernini lại vặn mình phóng về phía tên khổng lồ Goliath như một đòn sấm sét. Sự mạnh mẽ, dữ dội thể hiện rõ nhất qua hai tác phẩm Vụ cưỡng đoạt Proserpine và Apollo và Daphne của Bernini. Trong Vụ cưỡng đoạt Proserpine, thần diêm phù Pluto lấy tay ghì chặt nữ thần bốn mùa Proserpine với ý định chiếm đoạt bằng được nàng và Proserpine cũng chống cự quyết liệt để ngăn cản kẻ tấn công tình dục. Giống Pluto, thần ánh sáng Apollo cũng theo đuổi một người mình yêu là nàng tiên nữ cỏ cây Daphne và cũng bị nàng cự tuyệt, tuy nhiên vị thần này không thô bạo bằng Pluto và chỉ vờn đuổi theo nàng cho đến khi nàng thuận ý. Nhưng Daphne nhất định không chịu và khi thân thể nàng chạm vào bầu trời – ý chỉ một phần nào đó trên người Apollo thì nó lập tức biến dần thành một cái cây. Để nhấn mạnh cao trào của hành động, ngoài tạc tượng với một góc nhìn tuyệt diệu, ông còn đặt nó nằm đối diện với các bức tường tôn thêm vẻ kịch tính, cho tượng một nguồn năng lượng tư tưởng, qua đó người xem có thể thấy suy nghĩ của nhân vật như ở Daphne với miệng há rộng là sự lo sợ- kinh ngạc, David cắn môi - quyết tâm và Proserpine thì vật lộn để trốn thoát...

 

Trụ đỡ mái vòm mộ St . Peter


Không chỉ vậy, mỗi tác phẩm của Bernini, đặc biệt về người phụ nữ còn hết sức thơ mộng bởi những nét duyên dáng, gợi cảm dù đó là thần thánh hay dân thường. Khác các đồng nghiệp ở thế kỷ 17, e dè trong việc sáng tác, nhất là sáng tác về người phụ nữ thường không được phóng thoáng và chỉ đặc tả họ trong một vẻ kín đáo, lặng lẽ thì Bernini cho họ hiện lên đầy sự khơi gợi, nồng nhiệt với đôi mắt mở to, sáng rực hoặc chỉ khép hờ một cách đê mê, với đôi môi đang nói và các nếp áo như có làn gió thổi... phá vỡ hoàn toàn suy nghĩ thông thường về người phụ nữ. Có thể thấy điều ấy qua hai pho tượng Khoảng khắc đê mê của St. Theresa và Costanza. St. Theresa là một thánh nữ đi tu từ nhỏ song bà vẫn giữ được sự sôi nổi, nhiệt huyết của tuổi trẻ và sau này khi đã thấm nhuần tôn giáo rất chuyên tâm tụng niệm và là người có ảnh hưởng tới cải cách tôn giáo. Khoảng khắc đê mê... khắc họa lúc St. Theresa bắt đầu nhận định và thể hiện tình yêu đặc biệt đối với Thiên chúa- mặc dù bị muôn ngàn ngọn giáo đâm xuyên tim song bà vẫn cảm thấy sung sướng, khuôn mặt ngây ngất như đang yêu. Khác với St. Theresa, Costanza chỉ là một cô hầu đa tình, vợ một người thợ hồ trong xưởng Bernini. Không hiểu vì cô đong đưa hay vì ở độ tuổi 40, chưa từng vướng lưới ái tình trước sự trẻ trung, quyến rũ của cô, ông đã đem lòng yêu mến Costanza và năm 1637 đã tạc nên pho tượng bán thân Costanza, được xem là sexy nhất trong lịch sử điêu khắc châu Âu. Tượng miêu tả một người phụ nữ trẻ đẹp với mái tóc tết buông sau gáy, khuôn mặt bầu bĩnh, cổ cao và chiếc áo lót để lộ đôi gò bồng đảo đẫy đà – tác phẩm tự nhiên, sống động như người thật và có lẽ là sự thăng hoa của tình yêu say đắm nghệ sỹ gửi vào trong đá. Tình yêu của họ kết thúc nhanh chóng, song vì người phụ nữ này, ông cũng mấy lần đảo điên phạm tội mưu sát và bị phạt 3000 đồng tiền vàng, nhưng được Giáo hoàng Urban VIII tha bổng với điều kiện phải lấy vợ theo sự sắp đặt của Ngài, và đó là bà Caterina Tezio, một thiếu nữ đẹp nhất thành Rome.
Ngoài tượng, Bernini còn tạo nên rất nhiều kỳ quan kiến trúc như Quảng trường Piazza San Pietro trước Nhà thờ St Peter. Ở Quảng trường này, đứng ở góc nào, mọi người cũng có thể nhìn thấy Giáo hoàng. Hay các đài phun tráng lệ, mà nổi bật là Đài phun bốn dòng sông ở quảng trường Piazza Navona, một lúc khắc họa bốn vị thần sông quanh một cột tháp Ai Cập cao với đỉnh là một con chim câu cắp cành ô liu, biểu thị cho bốn dòng sông lớn của thế giới gồm sông Nile - châu Phi, Danube-châu Âu, Hằng- châu Á và Rio de la Plata-châu Mỹ, hàng năm là nơi sinh hoạt, vui chơi của hàng triệu người.
Có thể nói cuộc đời của Bernini đầy những vinh quang. Ông không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn vươn ra nước ngoài giới thiệu mỹ thuật Italia với quốc tế. Năm 1639, sau nhiều cống hiến cho nhà thờ và bạn bè, nghệ sỹ đã xây một lâu đài riêng cho mình là Palazzo Bernini, mà nay là số 11 và 12 via della Mercede, Rome và ở đó nhiều năm đến khi mất và an nghỉ tại Basilica di Santa Maria Maggiore. Phần lớn cuộc đời của Bernini được ghi lại nhờ người con trai út Domenico dưới cái tên Vita del Cavalier (Sống mãi người kỵ sỹ) Gio. Lorenzo Bernino, xuất bản năm 1713 và bài viết Cuộc đời Bernini của nhà văn Filippo Baldinucci năm 1682.


C.M.C

(Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số tháng 5/2014)

Error cURL: Could not resolve host: myzack.lol