Hình tượng Gióng trong nghệ thuật Nguyễn Tư Nghiêm
Câu chuyện Ông Gióng cùng ngựa bay về trời sau khi phá tan giặc Ân đã trở thành hình tượng nghệ thuật đẹp, là nguồn cảm hứng vô tận cho các nghệ sỹ sáng tác. Nhân dịp tác phẩm Gióng của Nguyễn Tư Nghiêm - hiện vật Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trưng bày trong Lễ hội Ý tưởng, tại Bảo tàng Khảo cổ và Nhân loại học của Đại học Cambridge, Anh, tháng 10 năm 2013, Tạp chí Mỹ thuật và Nhiếp ảnh trân trọng giới thiệu bài viết về tác phẩm này với cộng đồng yêu mến nghệ thuật sơn mài Việt Nam nói chung và nghệ sỹ Nguyễn Tư Nghiêm nói riêng.

Nguyễn Tư Nghiêm, Gióng, sơn mài, 1982
Hoạ sỹ Nguyễn Tư Nghiêm và Nguyễn Sáng là hai hoạ sỹ tài danh trong bộ tứ “Sáng - Nghiêm - Liên - Phái”. Cùng xuất thân từ sinh viên những khoá cuối cùng Trường Mỹ thuật Đông Dương, Nguyễn Tư Nghiêm học khoá 1941 – 1946, ông thực sự tìm thấy đời sống nghệ thuật của mình trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc1. Nguyễn Tư Nghiêm là họa sỹ có những bức tranh vẽ huyền thoại Thánh Gióng sớm nhất trong mỹ thuật Việt Nam hiện đại.
Căn cứ vào tư liệu của Hội nghệ sỹ Tạo hình Việt Nam, trong lần triển lãm cá nhân của Nguyễn Tư Nghiêm năm 1984, hình tượng Gióng đã sớm được danh hoạ này thể hiện trong các tác phẩm từ đầu thập niên 60, thế kỷ XX.
Nhìn vào tiến trình phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại, chúng ta thấy rõ hơn sự độc đáo của cá tính nghệ thuật Nguyễn Tư Nghiêm. Ông là người đi đầu trong những thử nghiệm nghệ thuật và sự đa dạng phong cách tạo hình. Đây là hoạ sỹ sớm chuyển dịch từ các đề tài lịch sử sang huyền sử. Trong không khí nghệ thuật rất mẫu thức và có biểu hiện sơ cứng giáo điều thập niên 60 - 70 thế kỷ trước, các đề tài huyền sử ít được sử dụng2. Đây là hiện trạng phổ biến trong tất cả các sáng tác nghệ thuật thời kỳ này. Với chủ trương hiện thực xã hội chủ nghĩa, chỉ tập trung vào cái nhìn thấy trong hiện thực cách mạng đã làm suy giảm tính ẩn dụ, trừu tượng vốn rất phong phú trong nghệ thuật cổ truyền.

Nguyễn Tư Nghiêm, Gióng, sơn mài, 1990

Nguyễn Tư Nghiêm, Gióng, bột màu, 1978
Ngay với cả những tác giả từng rất nổi tiếng trước cách mạng tháng Tám với các tác phẩm mang mầu sắc huyền ảo như Văn Cao (bài hát Trương Chi”, Chế Lan Viên (tập thơ Điêu tàn”, Nguyễn Tuân (Trên đỉnh non Tản, Loạn âm) cũng không phát huy những thủ pháp nghệ thuật hư ảo, những không gian mang tính tượng trưng và những hình tượng nghệ thuật thuần tuý hư cấu, tưởng tượng. Cái Thật, cái Thực, cái Tiên tiến, Hiện đại, Khoa học được đề cao. Trong Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc, nhà thơ Tố Hữu - Phó Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam đọc tham luận Văn nghệ dân chủ mới nêu lên ba tính chất Dân tộc - Đại chúng - Khoa học. Ngoài những định hướng trên các văn bản đường lối văn nghệ của Đảng, tiêu chí trao giải thưởng cho các tác phẩm văn học nghệ thuật giai đoạn 1945 - 1955 cũng thể hiện rất rõ phương hướng phát triển của văn học nghệ thuật đương thời. Các giải thưởng như Giải thưởng văn nghệ 1951 - 1952, Giải thưởng Văn nghệ 1954 - 1955 chủ yếu trao cho các tác giả phản ánh hiện thực kháng chiến, hình ảnh anh lính Vệ quốc quân, chị nông dân, các sự kiện cách mạng
như đấu tố địa chủ, chiến đấu trên chiến trường3.
Gắn bó với đời sống chiến đấu, Nguyễn Tư Nghiêm có những tác phẩm xuất sắc không chỉ thể hiện cuộc đấu tranh anh dũng, những thắng lợi vinh quang của cách mạng mà qua các tác phẩm nghệ thuật còn cho thấy những bước ngoặt của lịch sử, những đảo lộn trong xã hội, những khó khăn và mất mát riêng tư và cả những xót xa thầm lặng. Các tác phẩm liên quan trực tiếp đời sống cách mạng của Nguyễn Tư Nghiêm là Dân quân Phù Lưu4, Con nghé quả thực5, Nông dân đấu tranh chống thuế6 đếu là những tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông. Như vậy, cùng với mảng tranh hiện thực, giàu hơi thở cuộc sống đấu tranh cách mạng, Nguyễn Tư Nghiêm sớm trở về với cội nguồn văn hoá dân tộc.
Ông Gióng của Nguyễn Tư Nghiêm được biết đến nhiều7. Ông có 15 bức, tìm tòi nhiều với chất liệu bột màu và sơn mài, với kích thước to nhỏ khác nhau. Tiếp đến là ngôn ngữ tạo hình, có thể nói Ông Gióng của Nguyễn Tư Nghiêm có phần thâm trầm hơn. Nghiêm đến với Chủ nghĩa Hiện đại từ nghệ thuật Đông Sơn. Bức Gióng (bột màu, 1965, sưu tập Trần Hậu Tuấn) cho thấy sự đam mê nghệ thuật Đông Sơn của Nguyễn Tư Nghiêm. Hầu hết các tác phẩm về Thánh Gióng của Nghiêm đều sử dụng ngôn ngữ tạo hình có tính ước lệ, kỷ hà cao độ của nghệ thuật Đông Sơn. Lựa chọn ngôn ngữ tạo hình Đông Sơn để xây dựng hình tượng Thánh Gióng. Nguyễn Tư Nghiêm muốn đưa người xem trở về với thời điểm phát sinh ra huyền thoại này tương đồng với văn minh Đông Sơn. Câu truyện của Thánh Gióng trong cách diễn tả của Nguyễn Tư Nghiêm lý giải cuộc chiến ở Việt Nam không đơn thuần là cuộc chiến của một đế quốc hùng mạnh với một cuốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở Châu Á. Chính văn hoá Việt Nam với bề dày hàng ngàn năm lịch sử với đỉnh cao là nghệ thuật Đông Sơn đã góp phần làm nên những chiến thắng chấn động địa cầu trong thế kỷ XX.

Nguyễn Tư Nghiêm, Gióng, sơn mài, 120x90cm, 1982

Nguyễn Tư Nghiêm, Con nghé quả thực, sơn mài, 1968. Sưu tập: Đức Minh
Từ những bức phác thảo đầu tiên cho đến bức tranh sơn mài đoạt giải Nhất triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc năm 1990, Nguyễn Tư Nghiêm đã thực sự đưa nghệ thuật Đông Sơn thăng hoa cùng huyền thoại Gióng. Ngoại trừ một số phác thảo như bức Gióng (1980, sưu tập Trần Hậu Tuấn) mang phong cách điêu khắc đình làng Bắc Bộ, ngôn ngữ tạo hình lấy hình kỷ hà làm chủ đạo, bố cục các mảng phẳng, thấu thị đa điểm8. Vào thời điểm thập niên 60 của thế kỷ XX, những cách tân nghệ thuật tự nó là một thách thức. Mỹ thuật giai đoạn này có một khuynh hướng Xô Viết được bị ảnh hưởng từ các chuyên gia Liên Xô. Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc năm 1960, trong những hạng mục tác phẩm đoạt giải Nhất, cùng với Nữ dân quân vùng biển của Trần Văn Cẩn là bộ tranh sơn dầu của chuyên gia Liên Xô Cuznhetxop. Việc diễn khối, phép viễn cận, tả ánh sáng không chỉ nhìn thấy trong các tác phẩm sơn dầu mà ngay cả các tác phẩm sơn mài, lụa cũng đòi hỏi thực hiện các yêu cầu này. Bức Chèn pháo của Dương Hướng Minh hay Lớp học buổi tối của Nguyễn Sáng ra đời trong không khí nghệ thuật như vậy. Những đề tài truyền thống như ở Điệu múa cổ, Kiều, Gióng ở một khía cạnh nào đó là miếng đất màu mỡ cho những cách tân ngôn ngữ tạo hình.
Riêng với hình tượng Thánh Gióng, Nguyễn Tư Nghiêm trong chặng đường sáng tạo của mình luôn không ngừng tìm tòi những cách biểu đạt mới. Trong chặng đường sáng tạo ấy, chúng ta thấy hình tượng Gióng sống cùng vận mệnh dân tộc. Bức Gióng, bột màu vẽ năm 1975 là hình ảnh Gióng hiện lên trên cao, phía dưới là đám đông người đi như trảy hội. Không nghi ngờ gì nữa, bức vẽ trong thời điểm cả dân tộc trọn niềm vui thống nhất, thể hiện niềm hân hoan vui sướng. Tác phẩm Thánh Gióng vẽ năm 1990, chất liệu sơn mài tham dự Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc lần thứ XIV đã thể hiện cao độ những tìm tòi không ngừng nghỉ của Nguyễn Tư Nghiêm trong khoảng 25 năm với hình tượng Ông Gióng - người thiếu niên anh hùng mang phẩm cách và ý chí Việt Nam9. Phải đến tác phẩm này, ngôn ngữ Đông Sơn kết hợp với Chủ nghĩa Vị lai mới thực sự thăng hoa. Người anh hùng Gióng từ núi Sóc bay vào không gian huyền thoại đã trở về đây trong vẻ thâm trầm mà lộng lẫy của những sắc màu sơn ta cổ kính.
Thành công của Nguyễn Tư Nghiêm một lần khẳng định vốn văn hoá dân tộc là hành trang không thể thiếu được với người nghệ sỹ. Với tác phẩm Gióng, Nguyễn Tư Nghiêm đã đưa văn hoá Việt Nam đến với thế giới và giúp những người yêu mến nghệ thuật trên thế giới hiểu rõ những nỗ lực đến Hiện đại từ Truyền thống của các nghệ sỹ Việt Nam. Năm 2013, tác phẩm Gióng được trân trọng trưng bày tại Bảo tàng Khảo cổ và Nhân loại học của Đại học Cambridge trong Festival Idea là một vinh dự lớn cho nền nghệ thuật Tạo hình Việt Nam hiện đại và là một sự kiện nghệ thuật quan trọng của nước nhà.
T.H.Y.T
(Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số Tết tháng 1+2/ 2014)
Chú giải:
1 Cùng theo cách mạng lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến và trở thành hàng xóm với nhau gần trọn cuộc đời ở số nhà 65 Nguyên Thái Học.
2 “Một thời điểm quan trọng cho sự khẳng định đó là Bài nói chuyện của đồng chí Trường Chinh trong Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ Tư, năm 1968 - trong đó, có sự tổng kết về Đường lối văn nghệ của Đảng, gồm 10 mục; và một mục then chốt trong đó - mục 7 - là yêu cầu: “Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa để sáng tác và phê bình”
3 Các giải thưởng trong giai đoạn 1945-1954 dưới đây tóm tắt từ phần Phụ lục, trong cuốn Văn học Việt Nam kháng chiến chống Pháp (1945-1954) do Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Văn học (Việt Nam) thực hiện.
Tham khảo nguồnWiki:
http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83nh%E1%BB%8Dc Vi%E1%BB%87tNam_giai%C4 %91o%E1 %BA% A1n1945-1954
4 Giải Nhất triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc năm 1948
5 Sưu tập tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, hiện nay Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và một số công trình nghiên cứu khi giới thiệu tác phẩm này chỉ viết vắn tắt là Con nghé. Thiết nghĩ từ “quả thực” có ngữ cảnh lịch sử rất đặc biệt, liên quan đến Cải cách ruộng đất nên chúng ta không nên bỏ đi vì bất cứ lý do gì.
6 Sưu tập tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
7 Sáng và Nghiêm kế tiếp các nghệ nhân Đông Hồ đưa truyền thuyết Thánh Gióng vào mỹ thuật. Sau Sáng và Nghiêm còn có thể kể đến các tác giả khác như Nguyễn Hải ( tượng đồng), Phạm Văn Đôn ( tranh khắc gỗ), Đỗ Minh Tâm ( tranh sơn dầu), Tạ Quang Bạo, Nguyễn Kim Xuân ( điêu khắc)…
8 Xin gửi lời cảm ơn tới họa sỹ Nguyễn Thu Giang, họa sỹ Đặng Thị Khuê, nhà sưu tập Trần Hậu Tuấn, đã giúp tôi nhiều tư liệu nghiên cứu hai tác giả Nguyễn Tư Nghiêm và Nguyễn Sáng.
9 Giáo sư, NGND Trần Văn Giàu là học giả lớn của thế kỷ XX. Ông là người đặc biệt ca ngợi hình tượng Thánh Gióng. Theo ông, tuy là câu truyện huyền sử nhưng thể hiện đầy đủ bản lĩnh, khí phách, tâm thức và khát vọng của người Việt. Gióng từ một đứa trẻ trong nôi khi nghe thấy đất nước lâm nguy thì vụt đứng dậy, to lớn và khoẻ mạnh phi thường. Sức mạnh ấy bắt nguồn từ lòng yêu đất nước và dân tộc mình. Sức mạnh ấy cũng được nuôi dưỡng bởi cộng đồng dân tộc, là sức mạnh toàn dân. Hình ảnh Gióng ăn hết không biết bao nhiêu vại cà thật giản dị và thân thương. Cho nên chỉ với những cây tre, Gióng cũng lập nên những chiến công hiển hách.



