Quan điểm của người Việt trong giao tiếp xã hội qua thời trang
Trang phục là một nhu cầu thiết yếu của con người từ thủa khai thiên, lập địa. Ngoài chức năng bảo vệ, che chắn và làm đẹp, trang phục còn chứa đựng trong đó văn hóa, lối sống và “hơi thở” của thời đại theo mỗi tộc người, quốc gia, vùng miền trong suốt chiều dài lịch sử. Chính dấu ấn thời đại đã khắc họa trong trang phục những giá trị văn hóa, xã hội vô cùng phong phú. Trong nhiều thế kỷ, mỗi cá nhân trong xã hội đã sử dụng quần áo và trang sức làm đẹp cho cơ thể như một hình thức giao tiếp để thể hiện nghề nghiệp, đẳng cấp, giới tính, giàu nghèo, đồng thời cũng phản ánh nét văn hóa và phong cách cá nhân của con người, cũng là nét đặc thù của mỗi tộc người, mỗi quốc gia.


Trong những nghiên cứu của các nhà sử học trang phục là tấm gương phản ánh đời sống xã hội. Sự biểu hiện của các đặc tính trên trang phục cho thấy trang phục cũng là tập hợp các hệ thống tín hiệu, ngày nay một số nhà nghiên cứu như Werner Eninger còn cho rằng “chức năng tín hiệu là quan trọng nhất” và đó còn là một “mật mã” Những gì chúng ta quan sát mọi người trong một cuộc họp, tại một bữa tiệc, hoặc trên đường phố, quần áo thường thể hiện thông tin quan trọng (hoặc thông tin sai lạc) của họ về nghề nghiệp, nguồn gốc, tính cách, quan điểm, và thị hiếu thẩm mỹ. Ngoài sự nhận diện về chức năng giao tiếp, tính thực tế theo môi trường xã hội, tổ chức, nghề nghiệp, hay thời tiết, tuổi tác, giới tính, thông qua trang phục thể hiện rõ sự phân chia đẳng cấp, địa vị, vị trí xã hội. Tình trạng quần áo của một người đồng nghĩa với sự tôn trọng bản thân và là dấu hiệu của sự tôn trọng, nó cũng cho biết thêm một dấu hiệu cho thấy người đó có đủ tư cách trong xã hội để duy trì chi phí của thời gian và tiền bạc. Ngoài ra tín hiệu của trang phục còn được tạo nên bởi sự đa dạng văn hóa, đa dạng xã hội, đa dạng giới tính và đa dạng cá nhân. Thực ra trong trang phục còn hàm chứa cả một hệ thống tín hiệu về dân tộc, bộ tộc, quốc gia, vùng miền, tuy nhiên trong một môi trường giống nhau chúng ta vẫn nhận ra mọi người có lối ăn mặc khác hẳn nhau, hoặc khi đến các sự kiện khác nhau mọi người đều tuân thủ cách mặc riêng theo chuẩn mực xã hội, từ các khánh tiết mang tính quốc gia, lễ hội long trọng, hay lễ tốt nghiệp, cưới hỏi, tang ma, vv…
Nếu phương ngôn Nga có câu “Đón người nhìn quần áo/ Tiễn người nhìn tâm hồn” thì gười Việt xưa có câu: “Quen nể mặt/ Lạ nể áo”, cho thấy trang phục là một yếu tố quan trọng để lại ấn tượng trong lần tiếp xúc đầu tiên. Cho thấy trang phục là một dạng ngôn ngữ hình ảnh cho biết những nét cơ bản về văn hóa, đẳng cấp, phong cách, thị hiếu thẩm mỹ..., thậm chí cả thông tin về quốc gia, vùng miền…
Ngày nay, do sự trợ giúp của hệ thống truyền thông, internet và hàng không hiện đại, khoảng cách thời trang trong nước và quốc tế hầu như không quá cách biệt, các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới cùng với những bộ sưu tập thời thượng nhất đã được giới thiệu tại Việt Nam trong thời gian qua đã nói lên điều này. Chính vì vậy thị trường thời trang Việt Nam hiện nay vô cùng đa dạng và phong phú. Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu, với tác động của kỹ thuật thông tin đại chúng qua mạng internet, vô tuyến truyền hình, sách báo… Thẩm mỹ của người Việt hoàn toàn bắt kịp trào lưu thế giới, người tiêu dùng sẵn sàng tiêu tốn ngày càng nhiều tiền hơn để thỏa mãn sở thích cá nhân, kiếm tìm sự độc đáo, khác biệt để khẳng định cá tính.


Nói về “Thời trang” Việt, dựa theo 945 phiếu điều tra tại ba miền Bắc Trung Nam, dựa theo bốn nhóm đối tượng chính là: sinh viên; cán bộ công chức/ viên chức; buôn bán, dịch vụ; và lao động tự do, đã cung cấp cho chúng tôi cách nhìn nhận mới về quan điểm của người Việt trong xã hội hiện nay thông qua hình thức biểu hiện trang phục. Phần lớn tâm lý người Việt cần các kiểu loại trang phục thanh lịch và tao nhã, kín đáo, thích ứng với môi trường sống và làm việc nhiều hơn là nghỉ ngơi và thư giãn. Những kiểu thức hay phong cách thời trang người Việt quan tâm rất thiết thực, phù hợp với hoàn cảnh xã hội và kinh tế nước ta hiện nay, đó chính là cốt cách của người Việt được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên cũng có sự tương đồng và khác biệt giữa các lứa tuổi, vùng miền hay nghề nghiệp, chúng ta có thể nhanh chóng nắm bắt thông qua các bảng tổng hợp cụ thể dưới đây:
Hiện nay, tuy kinh tế xã hội của người Việt đã có nhiều biến đổi nhưng phần lớn người Việt vẫn duy trì lối sống muốn hòa nhập cùng mọi người, đặc biệt khoảng tuổi sau 30, có tới 75,6% muốn mình giống như mọi người, một lần nữa minh chứng tâm lý “cộng đồng” tồn tại khá sâu trong tâm thức người Việt, cũng là quan điểm của cư dân vùng Đông Nam Á. Chị Đoàn Ngọc chủ thương hiệu thời trang Canifa cho rằng: “Người Việt nói chung chưa có gu ăn mặc, chưa thực sự hiểu mình nên ăn mặc như thế nào theo đúng sở thích của mình, chính vì vậy thường chọn phương án an toàn “mặc giống những người khác”. Ăn mặc đơn giản (rất đơn giản)” [PV ngày 24/ 12/ 2012]. Có 39,9% người Việt trẻ thích điều này và cũng tương đương 36.7% người Việt trẻ lựa chọn sự khác biệt nhưng không quá nổi trội, càng minh chứng cho luận điểm của người Việt rất “khôn ngoan”, ăn mặc cũng là để đảm bảo cho mình có cuộc sống bình yên, không gây chú ý, ganh ghét hay hiềm khích, đúng như nhận định của nhà nghiên cứu Phan Ngọc về văn hóa Việt Nam là văn hóa 4f trong đó: “thân phận là cuộc sống yên ổn và được đảm bảo… Diện mạo được tập thể cộng đồng yêu quý”.
Nếu phân tích tỉ mỉ rõ ràng tỷ lệ người miền Bắc có nhu cầu về sự hòa đồng thấp hơn khu vực miền Nam, đã cho thấy sự biến đổi đang diễn ra dần dần, từ tâm điểm của vùng văn hóa đến vùng ngoại biên. Tuy nhiên, nếu xét theo nghề nghiệp chúng tôi nhận thấy đối tượng công chức (66.8%) và buôn bán, dịch vụ tăng cao
(84,3%), cho thấy những đối tượng này luôn có chừng mực trong sự thể hiện hình ảnh bên ngoài, muốn tạo độ tin cậy hay sự an toàn hơn là sự khác biệt. Đây là một tín hiệu đáng mừng bởi từ trong tâm thức, người Việt vẫn chưa mất đi nét văn hóa rất truyền thống của mình, trong cách ứng xử qua ăn mặc, chính là tâm thức mang tính cộng đồng cao. Trong khi sinh viên và đặc biệt nghề nghiệp khác (5,5%), hầu như không muốn giống như mọi người, một minh chứng cho sự tự do trong sự thể hiện phong cách cá nhân. Hiếm khi cùng một vấn đề được hỏi mà lại có kết quả khác biệt đến thế. Kết quả hết sức ngẫu nhiên cũng gây sự bất ngờ, cho thấy những thay đổi diễn ra ở giới trẻ mạnh hơn rất nhiều những người trung niên.
Sự độc đáo, khác biệt
Sự độc đáo, khác biệt, gây chú ý qua trang phục, thường thể hiện trong nhóm trẻ với số lượng ít, 16,8% tuy nhiên với tuổi sau 30 còn ít hơn, chỉ khoảng 9,1%. Khảo sát này cho thấy nhóm những người muốn bứt phá khỏi dòng chảy thời trang chung không nhiều, càng lớn tuổi càng “chín chắn” hơn, điềm đạm hơn. Nếu nghiên cứu giới trẻ Nhật Bản chúng ta cũng thấy có nét tương đồng: các nam thanh nữ tú tuổi vị thành niên đến 22 tuổi (lứa tuổi học đường) thường rất thích các gu ăn mặc phá cách, táo bạo và khác thường của dòng thời trang Lolita và Cosplay, đến mức phong trào này lan tỏa đến cả châu Âu và các nước châu Á khác, tuy nhiên ngay sau đó đến tuổi đi làm họ lại trở về với sự ổn định và hài hòa trong cộng đồng.
Chị Đoàn Ngọc cho rằng: “Người miền Bắc quan điểm thời trang là để thể hiện bản thân đối với xã hội nên khá bảo thủ và phụ thuộc vào các nhóm xã hội mà họ thường quan hệ. Người miền Nam quan điểm thời trang là để thể hiện chính bản thân nên sẽ tiêu dùng “thông minh” hơn người Bắc” (PV ngày 24/ 12/ 2012). Thực tế chúng tôi nhận thấy khu vực miền Nam có nhiều người quan tâm đến sự thể hiện cá tính bản thân qua trang phục nhiều hơn cả (22,6%), trong khi nghiên cứu theo nghề nghiệp chúng tôi nhận thấy những người thuộc nhóm buôn bán, dịch vụ chỉ có 7,8% quan tâm đến sự khác biệt, muốn gây chú ý qua trang phục.

Trong khi đó số những người không mấy quan tâm đến thời trang rất ít, giới trẻ khoảng 3% và sau tuổi 30 chỉ còn lại 1,1%, số liệu tổng hợp chung 2,7%, đối tượng có tỷ lệ cao nhất là nghề nghiệp khác (5%), khu vực miền Trung 5,3%, các vùng miền hầu như chỉ sấp sỉ 2%, đây là một tín hiệu đáng mừng cho thời trang Việt. Như vậy thời nay mọi người đã quan tâm đến thời trang nhiều hơn, thời trang không chỉ là vật dụng che phủ mà còn là làm đẹp, do vậy quan tâm tới thời trang đồng nghĩa với việc ý thức về vẻ đẹp và nhu cầu thẩm mỹ bên ngoài đã được chú trọng hơn rất nhiều.
Những phân tích về sự thể hiện bản thân qua thời trang của người Việt trong giao tiếp xã hội phần nào đã giải mã được quan niệm hiện nay về tâm lý và quan điểm của cộng đồng người Việt các vùng miền, lứa tuổi và nghề nghiệp thông qua thời trang. Sự tương đồng và khác biệt với văn hóa mặc truyền thống được minh chững cụ thể qua các số liệu. Chúng tôi thấy nổi bật trong thời trang hiện nay chính là tâm thức cộng đồng (sự hòa đồng) vẫn được lưu truyền bên cạnh số ít những người đề cao phong cách cá nhân (sự độc đáo, khác biệt).
Các xu hướng thời trang thế giới luôn tồn tại trong nỗi quốc gia, vùng miền dưới các hình thức biểu hiện vô cùng đa dạng và phong phú. Theo quy luật tồn tại của xã hội, qúa trình liên tục tái sản xuất, mọi xu hướng với tính chất của hệ thống mở, bao gồm xu hướng tự hoàn thiện, truyền bá và liên tục sáng tạo, mở rộng cấu trúc, đó là sự thích ứng và sự mới mẻ trong thời trang… từ đó kéo theo sự thay đổi về quan niệm thẩm mỹ cũng như cách ứng xử của mỗi cá nhân trong cộng đồng về thời trang và giao tiếp trong xã hội trong tương lai.
N.K.H (số 11, tháng 11/2018)
Tài liệu tham khảo
1. Phan Ngọc (2001), Bản sắc văn hóa
2. Việt Nam, Nxb Văn học. Hà NộiNgô Đức Thịnh, Frank Proschan chủ biên (2005), Folklor một số thuật ngữ đương đại, Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội


