Ba vị tướng trận thời bình

Việt Văn 28/05/2018


Mấy năm gần đây, cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 30-4 là tôi lại nghĩ về những vị tướng trận anh hùng của quân đội nhân dân Việt Nam mà tôi có dịp gặp gỡ, trò chuyện và thực hiện dự án.

 

Hàng chục năm, hình ảnh Tướng Thước hằng ngày đẩy vợ trên chiếc xe lăn đãtrở nên quá thân thuộc với những người hàng xóm. 

 

“Thời chiến tranh, tôi xa nhà đánh giặc, bà ở nhà chăm sóc gia đình, nuôi con. Thời bình, bà ốm, tôi lại về chăm bà, tình nghĩa vợ chồng là nghĩa tào khang”


Dự án “Tướng trận thời bình” của tôi có 12 vị tướng trận oai hùng, đánh Đông dẹp Bắc ở nhiều quân binh chủng khác nhau, trong đó, có ba vị tướng mà tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc nhất, là Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc và Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy.

 

Những huy chương ghi nhận chiến công của Tướng Thước


Trung tướng Nguyễn Quốc Thước sinh năm 1926, tại Nghi Diên, Nghi Lộc, Nghệ An. Gia đình Nho học, thanh cao, giữ đạo nghĩa, tiết tháo đã ảnh hưởng đến ông từ nhỏ đến khi trưởng thành và sau này trở thành một vị tướng trận... Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông là đại tá thuộc quân đoàn 3 góp phần làm nên Đại thắng mùa xuân của dân tộc.

 

Tướng Phúc là con người hào sảng và đầy nhiệt huyết. Ông vẫn nhớ như in những trận đánh năm xưa


Tháng 12/1996, ông được phong Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 4, Ủy viên Trung ương Đảng khóa VI và sau đó ông được bầu làm đại biểu Quốc hội 3 khóa liền (VIII,IX,X). Về hưu, Tướng Thước vẫn là nhân vật gây ấn tượng mạnh mẽ với những phát biểu gây nóng nghị trường về những vấn đề bức xúc xã hội và những chính sách về quốc kế dân sinh. Ông còn giúp những người dân kêu oan, viết hộ thư kiến nghị gửi đến các cấp có thẩm quyền xem xét. Còn trong gia đình, câu chuyện chăm sóc người vợ hàng chục năm từ khi bà bệnh cho đến khi bà mất, làm xúc động bao người.

 

Ông thổi kèn cho cháu nghe


Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc sinh năm 1933 tại Bắc Ninh, nguyên là Ủy viên Quân sự Việt Nam tại Liên Xô, Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Ủy viên Đảng ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Ông đã tham gia nhiều trận đánh lịch sử trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ như trận Điện Biên Phủ (đánh đồi C1 và C2) và đặc biệt là trận “Điện Biên Phủ trên không” bảo vệ Hà Nội 12 ngày đêm, với phương pháp bắn độc đáo góp phần hạ nhiều máy bay B52.

 

Đôi khi rảnh rỗi, Tướng Huy cũng ngắm lại những tấm huy chương. Mỗi huy chương đánh dấu những trận đánh thành công của ông, nhưng ông cũng ngậm ngùi


Có lần tôi hỏi Tướng Phúc: “Vì sao nhiều vị tướng lĩnh của ta không được học tập, đào tạo một cách có phương pháp, bài bản nhưng lại có thể chiến thắng trong nhiều cuộc chiến với tướng lĩnh quân đội nổi tiếng của nước ngoài? Ông trả lời: Việt Nam có truyền thống chống xâm lược trải qua nhiều thế hệ từ đời này sang đời khác, ngày càng được nâng cao. Các vị tướng ở ta đã học được lịch sử và nghệ thuật chiến tranh của tổ tiên, đó cũng là văn hoá Việt Nam”.

 

Cuốn sách mang tên “Valley Vets II- an oral history” của tác giả William L.Adam (Mỹ) dành một chương để nói về Tướng Huy


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, tướng Phúc có biệt danh “tiếng kèn địch vận” khi chơi đàn harmonica thổi những bản nhạc của ta và của nước ngoài, không những động viên tinh thần chiến đấu của bộ đội ta mà còn làm suy giảm ý chí tinh thần của đối phương. Về hưu, sở thích âm nhạc của Tướng Phúc càng có dịp được phát huy. Ông không chỉ thổi kèn harmonica mà còn chơi guitar, piano và sáng tác nhiều bài hát về thiếu nhi, về ngành y và lực lượng phòng không không quân.

Điều tôi yêu quý ở ông là cách sống giản dị của một vị tướng. Mỗi lần có dịp gặp ông là cảm nhận rõ sự ấm áp, gần gũi, thân tình, luôn quan tâm tới người khác với tấm lòng nhân hậu.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy sinh năm 1931, ở Khoái Châu, Hưng Yên, nguyên quyền Tư lệnh Quân khu 2, gia nhập quân ngũ từ năm 17 tuổi và tham gia nhiều trận đánh lớn, trong đó có chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ông từng chiến đấu ở sư đoàn 320, sư đoàn 304 trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, rồi làm Sư đoàn trưởng sư đoàn 325 chiến đấu giải phóng Nam Lào sau này. Và đặc biệt, ông là tham mưu trưởng ở mặt trận Vị xuyên (Hà Giang) từ năm1985-1989.

Những trận đánh Quảng Trị 1972, Thừa Thiên Huế 1975... ở chiến trường Miền Nam - Việt Nam là lúc ông phát huy tốt nhất khả năng cầm quân của mình. Trận đánh tiêu diệt tiểu đoàn 6 Thủy quân Lục chiến tinh nhuệ của quân đội Sài Gòn ở Bắc sông Thạch Hãn, Quảng Trị, ông đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi điện khen.

 

Tướng Huy và bức ảnh hai vợ chồng ông chụp năm 1964, 1 năm sau ngày cưới. Tướng Huy luôn mang theo tấm ảnh này trong người như một kỷ vật quý.


Với Tướng Huy thì “tình đồng đội trong chiến tranh là cao cả nhất”. Năm 1967, ông chôn một đồng đội của mình - đại uý Nguyễn Danh Ngọc, Tham mưu trưởng trung đoàn 9B bị hy sinh trên đất Lào phía Tây sông Sepol. 30 năm sau, ông bỏ thời gian sang Lào tìm bằng được hài cốt người đồng đội năm xưa, đưa về Việt Nam. Ông bảo: “đó là trách nhiệm của người còn sống với người đã hy sinh”.

 

Chiều mùa đông, Tướng Huy đến viếng các đồng đội ở nghĩa trang Hà Nội.Ông kể nhiều lúc buồn, ông lại đến nghĩa trang, nói với những ngôi mộ: xin các liệt sỹ tha thứ cho ông. Vì ông là chỉ huy của nhiều trận đánh trong đó có những trận, đồng đội của ông hy sinh nhiều.


Trong cuốn sách mang tên “Valley Vets II - an oral history”của William L. Adam (Mỹ), trong phần phỏng vấn tướng Huy, tác giả đã dành từ “lịch lãm” (sophisticated) để nói về ông.

Về hưu, Tướng Huy vẫn quan tâm đến thời sự, thời cuộc, đi thăm chiến trường xưa, tham gia các hoạt động nghĩa tình đồng đội (xây nghĩa trang, tìm hài cốt đồng đội) và đặc biệt ông luôn nhắc đến cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp như một bậc thày đáng kính trọng nhất về tài năng và đức độ.

 


V.V

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)