Nhà nhiếp ảnh mỹ thuật Đỗ Huy - Người bạn lớn của mỹ thuật thời Đổi Mới…

Nguồn:

Vũ Lâm 22/08/2017



Buổi trưa nắng, tôi đang là sinh viên, đi bộ ra ngoài phố Yết Kiêu để “làm no” nháo nhào bằng một xuất cơm bụi rồi về ngủ để chiều lên lớp tiếp. Nhưng cũng có trưa, có hai chuyện hay xảy ra ngoài cổng và trong sân trường, mê mải đứng xem quên cả về. Chuyện thứ nhất là đứng ngoài cổng trường xem anh Ý điên (điêu khắc gia Nguyễn Như Ý) đục tượng. Thứ hai, là thấy một đám vài người, vác một đống tranh ra chụp đúng giữa trưa, bên cạnh nhà triển lãm cũ bên phải cổng trường. Len vào xem, thấy có một ông mặt dài thượt, mũi gồ cao, quát tháo nhặng xị, nhưng cái giọng vẫn dễ nghe; một anh khác trẻ hơn, đẹp giai như tài tử xi - nê Hồng Kông chạy đi chạy lại. Hai ông này hay mặc đồ đen, còn một ông nữa, chắc chắn là họa sĩ tác giả của đống tranh, thì bê bê, chỉnh chỉnh, mướt mồ hôi mà vẫn cười cười chứ không dám kêu ca…

Bạn bè bảo, là ông Đỗ Huy đang chụp tranh đấy, nhân thể đứng xem ké tranh luôn. Đủ các loại, sơn dầu, sơn mài, điêu khắc, mà có thể tác giả chỉ chụp để làm sách, chứ không bày triển lãm, mấy khi có dịp xem thỏa thuê như thế, giống như người vẽ tự nhiên mở cửa xưởng cho sinh viên ngó.

Mỹ thuật thời trước và sau Đổi Mới, không họa sĩ nào không biết đến Đỗ Huy. Các triển lãm lớn nhỏ, các bộ sưu tập, những sáng tác mới muốn chụp lại để xuất bản, các cuốn sách mỹ thuật quan trọng của thời gian ấy, hết thẩy đều qua tay anh chụp. Nhà báo mỹ thuật Quang Việt kể rằng Đỗ Huy tự nhận là người được xem nhiều tranh nhất Việt Nam, kể cũng đúng. Chất lượng ảnh tranh của anh, ngang với chất lượng quốc tế vào thời đó. Ông Lê Vượng, một nhà nhiếp ảnh kỳ cựu của Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ sau này là Bảo Mỹ thuật Việt Nam nói: “Trong việc chụp tranh , tôi chỉ tin tôi và tin Đỗ Huy. Riêng chụp sơn mài thì Tây cũng vứt”. Ông Lê Vượng là cháu ruột của họa sĩ Lê Phổ, là một trong 6 người đầu tiên xây dựng Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cùng với giám đốc – Viện trưởng Nguyễn Đỗ Cung. Ông Lê Vượng chơi thân với ông Đỗ Huân – thân sinh của Đỗ Huy – cũng là một nhà nhiếp ảnh nổi tiếng. Trước 1945, những ai chơi ảnh thực thụ ở Hà Nội như các ông Lê Vượng, Đỗ Huân, Nguyễn Duy Kiên… đều là những nhà gia thế và rất giầu có mới chơi được.

Nhiếp ảnh gia Đỗ Huy (tên đầy đủ là Đỗ Quốc Huy, 1955 - 2017) sinh ra trong một gia đình tư sản danh gia như thế. Ông nội anh, là nhà tư sản thầu khoán xây dựng Đỗ Lợi, gốc ở Tiên Lữ, Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Năm 1945, gia đình cụ Đỗ Lợi đã quyên 45 lạng vàng cho chính phủ mới trong “tuần lễ vàng”. Những đợt cải tạo công thương năm 50 – 60, gia đình nhà đại tư sản này phải hiến tới 18 căn nhà cho nhà nước. Bác ruột anh, bà Đỗ Thị Bính, là một tuyệt sắc giai nhân hồi trẻ từng khiến nao lòng bao thi sĩ Hà thành… Những chuyện đó mãi sau này tôi mới biết, trong một kỷ niệm duy nhất nhớ của anh đối với tôi. Đỗ Huy có mối giao du rộng rãi trong giới nghệ thuật, nhiều người bạn còn có kỷ niệm sâu sắc hơn nhiều với anh. Còn tôi là đàn em, thế hệ sau, không có được cái duyên đó. Nhưng ai đã từng gặp cả ba người này, là nhà thơ Phạm Tiến Duật, đạo diễn Nguyễn Hữu Phần, nhiếp ảnh gia Đỗ Huy đều nhận thấy ba con người tuy khác họ, năm sinh, nhưng chân dung nhân tướng học của họ đều khá đặc biệt, và họ có nét giống nhau kỳ lạ. Tôi không thông thạo môn tướng số, nhưng có lẽ đó là một loại tướng tá được ghi vào sách hẳn hoi, nhiều năng lượng, ham hố đam mê, đều là những người tài trong giới văn nghệ. Chơi với nghệ thuật đã hay, mỹ thuật còn là tinh túy của nghệ thuật nói chung, đúng nghĩa tiếng Anh “fine art”, nên tôi thiết nghĩ, những ai dính dáng đến mỹ thuật, mà nổi danh, thì không thể không có phẩm chất sang trọng, bất kể dù xuất thân như thế nào. Đỗ Huy là một người như thế, dù khi anh sinh ra vào năm sau khi kháng chiến xong xuôi, có chính quyền mới, khi anh lớn lên thì gia đình đại tư sản của anh cũng đã sa sút về kinh tế nhiều…

 

Nhiếp ảnh gia Đỗ Huy (tên đầy đủ là Đỗ Quốc Huy, 1955 - 2017) 


Khoảng năm 2004, tôi ở căn nhà thuê, vừa làm xưởng vẽ ở ngõ 459 Đội Cấn, cửa Bộ tư lệnh Công binh, của thầy Phan Cẩm Thượng và một số học trò. Anh Đỗ Huy hay tới chơi với thầy Thượng, ngồi trà lá hàn huyên, còn tôi lăng xăng hóng chuyện. Anh hay đi cùng với anh Trường, cùng quê Sơn Tây với tôi, là cộng sự ruột, và sau này trở thành thân nhân của anh thì phải – chính là tay đẹp trai như tài tử xi-nê tôi đã thấy cùng chụp ảnh với Đỗ Huy hồi sinh viên. Có lúc Đỗ Huy cũng đến một mình, một hôm chiều tối trời mưa, anh Huy đến, đợi thầy Thượng mãi không về, tôi rót rượu ra mời anh uống tiêu sầu đợi giời ngớt. Lúc đó, là thời điểm bức tranh “Em Thúy” được một nữ chuyên gia Úc sang phục chế. Biết tôi đang viết về việc này, anh Đỗ Huy bảo: Cái tranh ấy ở nhà tao mà ra… Và anh kể thêm một chuyện rất thú vị về lịch sử bức tranh, gần như không ai biết, vì đó là chuyện riêng của gia đình, từ lúc anh chưa đẻ. Họa sĩ Trần Văn Cẩn vẽ tranh này năm 1943, gia đình cụ Đỗ Lợi, Đỗ Huân mua bức tranh sau khi bức vẽ được đem triển lãm. Vào năm khi Nhật đảo chính Pháp, gia đình cụ Đỗ Lợi phải chạy tản cư. Quân Nhật tạm chiếm nhà cụ (vì nhà giầu, to đẹp ở phố Hàng Đẫy) để cho các sĩ quan ở. Trong phòng thư viện của nhà cụ Đỗ Lợi có rất nhiều sách, trong đó có một số tài liệu về chủ nghĩa cộng sản. Quân Nhật vô tình tìm thấy những tài liệu này, tức giận bèn tưới xăng đốt cháy tan cả nhà. Nhưng riêng bức tranh Em Thúy, chúng bỏ ra ngoài, vì cho rằng đó là chân dung của một trong các cô gái chủ nhà. Do vậy, nên tranh không bị làm mồi cho lửa…

Năm 1964, ông Lê Vượng, do chơi thân với ông Đỗ Huân, nên đã sưu tầm bức Em Thúy từ nhà ông Đỗ Huân, là tác phẩm đầu tiên được mua về cho phòng cận đại (tức là phòng mỹ thuật thời Đông Dương). Việc này, tôi có biết sơ qua lời kể của bà Hải Yến, nên tôi hỏi anh Đỗ Huy: Tại sao các cụ nhà anh lại bán bức tranh đó? – Có phải bán đâu, ông già tao tặng Bảo tàng đấy - Nhưng em nghe cô Hải Yến kể là Bảo tàng có trả 300 đồng, tức là gần gấp năm lần lương tháng của một cán bộ trung bình, kể ra vào thời điểm không mua bán tranh nhiều, cũng là món tiền to đấy chứ? Nghe vậy, anh Đỗ Huy nghiêng đầu quay sang lườm tôi, khuôn mặt anh toát lên một vẻ lạ mà tôi chưa từng thấy. Và chắc cũng do chút hơi rượu uống lúc đói, anh bèn nổi quạu… Mày có biết nhà tao từng là thế nào không? Và anh kể một thôi một hồi về lịch sử gia đình, những sự oai phong của một dòng họ tư sản dân tộc lẫy lừng, giầu có bậc nhất Hà thành đầu thế kỷ. Có lẽ hồi đó anh cũng có những phẫn hận riêng tư, mà tôi còn trẻ nên không hiểu, và nhân một dịp vô tình như vậy cho nên anh mới bộc bạch. Kể xong, dường như cũng trút được bớt phiền muộn, anh cầm chén rượu ra đứng tựa cửa, nhìn mưa. Tôi chép miệng, than cho sự thay thời đổi thế, trồi sụt bãi bể nương dâu. Anh không quay lại, nhưng thở dài nói, như là nói cho mình: Các cụ bảo, đời cua cua máy, đời cáy cáy đào, ông em ơi… Rồi anh bỏ ra về giữa lúc trời còn chưa tạnh, tôi đưa áo mưa thế nào anh cũng không cầm…

Sau này tôi hỏi lại bà Hải Yến, thì bà cho biết rằng lý do hồi đó Hội Mỹ thuật rất hay mượn bức tranh Em Thúy, cùng một số tranh thời Đông Dương còn lưu lại ở một số nhà giầu, công chức đã mua trước 1945, để đem đi triển lãm trong, ngoài nước. Ông Đỗ Huân cảm thấy việc này phiền toái, bèn nói với ông Lê Vượng ngỏ ý muốn tặng Bảo tàng. Ông Lê Vượng về kể chuyện với ông Nguyễn Đỗ Cung, ông Cung bèn nói rằng Bảo tàng có chủ trương sưu tập tác phẩm giá trị để hình thành Phòng Mỹ thuật cận đại, nhưng sưu tập là mua chứ không phải đi xin tranh. Sau đó quyết định gửi món tiền như vậy là cho có lễ, rồi ông Lê Vượng đến đem tranh về, giao cho bà Hải Yến vào sổ. Đó là chuyện mà các họa sĩ lâu năm tại Bảo tàng, bạn bè của họa sĩ Trần Văn Cẩn đều đồng nhất ý kiến…

 

Từ trái sang: họa sĩ Nguyễn Vinh, NSNA Đỗ Huy, họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ, họa sỹ Hoàng Công Luận. Ảnh: họa sỹ Nguyễn Bình Minh cung cấp.


Trong bất kỳ một giới nghệ thuật nào, cũng có những người bạn lớn, họ dành công chăm chút, tôn vinh, đưa ra đời những sáng tạo của nghệ sĩ. Trong ngành mỹ thuật thời Đổi Mới oai hùng, phải kể đến những người chụp ảnh, những người làm khung tranh nổi tiếng, những nhà buôn tranh thời kỳ đầu, những người giỏi giang góp công thầm lặng vào việc giới thiệu mỹ thuật Việt ra thế giới. Mà kể đến tên của họ, người ta cho rằng nghệ sĩ tính của họ còn đậm hơn nhiều những nghệ sĩ tầm tầm, và không ai rõ bản chất các nghệ sĩ khác hơn họ. Tôi không biết nhiều về cuộc đời ông Đỗ Huy, chỉ biết ông đã từng đi lính, rồi về làm ảnh cho NXB Mỹ thuật và Tạp chí Mỹ thuật từ thời kỳ đầu, rồi cũng rong ruổi trời Tây. Cuộc đời ông cũng từng nếm đủ nỗi ngọt bùi, vì tình yêu với đàn bà mà trầy trật đủ đường. Sau khi ông mất, tôi có nghe họa sĩ Trịnh Quốc Chiến nhắc một câu nói của ông về tình yêu, qua lời kể của thầy Phan Cẩm Thượng, khi thầy vào thăm Đỗ Huy lúc ông trên giường bệnh. Vì sự kỳ khôi của câu nói này, rất tiếc không thể thuật lại ở đây được. Nhưng tôi cho rằng đó là lời bày tỏ mặn mòi mà lạc quan nhất về tình yêu mà người ta có thể nói ra. Hôm đưa đám ông, trong cái thời buổi mà ở thành phố con người ta sống thì long đong sấp ngửa, chết rồi cũng phải vội vã, vẫn thấy đủ mặt hầu hết những anh tài của giới mỹ thuật, từng có duyên nợ tri giao với ông.

Tôi mượn lời của đạo diễn Nguyễn Hữu Phần, trong bài ai điếu diễn viên cưng của ông là ngôi sao điện ảnh trẻ Lê Công Tuấn Anh, để gửi tới hương hồn ông Đỗ Huy: “Sự sống trên đời này đâu tính bằng năm tháng, mà bằng những gì ta làm được cho đời”. Chỉ vài năm sau những năm Đổi mới, phương tiện chụp hình thay đổi chóng mặt. Bây giờ bất cứ họa sĩ nào cũng có thể sắm cho mình một cái máy ảnh tốt để chụp tranh. Nhưng để chụp ảnh tranh được như ông Đỗ Huy vào cái thời mà phương tiện chưa có gì nhiều, vẫn là một khoảng trống không ai vượt qua được…

 

 

V.L

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)