Quan hệ Việt - Pháp qua 4 thế kỷ, vai trò tiên phong của Nhiếp ảnh Việt Nam

Ngô Kim Khôi 10/06/2014


Chùm ảnh xưa từ thập niên 1860 đã vượt muôn trùng thế kỷ, trở về với chúng ta qua cuộc triển lãm Vai trò tiên phong của nhiếp ảnh ở Việt Nam, khai mạc ngày 20/3 tại Viện Lưu trữ quốc gia Pháp, thủ đô Paris.
Nằm trong khuôn khổ Năm Việt Nam tại Pháp (2013-2014) do Viện Lưu trữ Quốc gia Pháp (Centre d’accueil et de recherche des Archives nationales) và Viện Hàn lâm Khoa học Hải ngoại Pháp (l’Académie des sciences d’outre-mer) phối hợp tổ chức, Vai trò tiên phong của nhiếp ảnh ở Việt Nam được trình bày với hai phần :
- Phần đầu là các đoạn phim thu hình từ những tấm panneaux từng được trưng bày ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 tại Hà Nội, Viện bảo tàng Mỹ thuật và Trung tâm Văn hóa Pháp Sài Gòn.
- Phần thứ nhì gồm một trăm năm mươi bức ảnh đầu tiên của những người Pháp đặt chân đến Việt Nam vào giữa thế kỷ thứ XIX.


Bước vào phòng triển lãm, một trăm năm mươi bức ảnh linh hoạt chuyển mình phủ bỏ lớp bụi thời gian của hơn một trăm năm mươi năm dài đăng đẵng, tràn đầy tang hải bể dâu, sống động bước ra, mở rộng cửa đón mời khán giả trong một không gian cổ với nếp nghĩ, nếp nhà, đời sống quê hương chúng ta thuở còn rất nguyên sơ. Đó là những cảnh đời riêng biệt mà ngày nay không còn thấy nữa.
Một vài vị cao tuổi có thể hoài niệm đâu đó trong tiềm thức của mình những hình ảnh này, thấp thoáng trong sách vở, hoặc lắng đọng trong những bài học thuở ấu thơ, nhưng các bạn trẻ không thể hình dung được nếu không có hình ảnh làm nhân chứng, đừng nói chi đến tâm tình…
Một trăm năm mươi cái nhìn ấy đã thu vào ống kính những mảng ký ức vô giá, mọi sinh hoạt, phong tục tập quán, lễ hội…, từ lộng lẫy triều đình đến cuộc sống dân dã, không chỉ bởi bước chân thời gian và chiến tranh, mà còn bởi sự bất cẩn, hoặc thậm chí những nhận thức hẹp hòi của con người, đã tàn nhẫn xóa mờ đi một cách không thương tiếc: điện Kính Thiên, chùa Báo Ân, nha Kinh Lược, chùa Báo Thiên, v v…
Tại triển lãm còn có những bức ảnh mới xuất hiện lần đầu tiên.

Khi mà máy chụp hình vẫn còn xa lạ và hiếm hoi ngay với cả người dân châu Âu, chụp một bức ảnh thời đó rất vất vả, vì máy chụp hình to như một cái rương, rửa ra bức ảnh là cả một công trình, không nói đến tính mỹ thuật tuyệt đẹp làm cho khán giả phải sững sờ khi chiêm ngưỡng tác phẩm của những nhiếp ảnh gia có mặt trong triển lãm này, Emile Gsell (1838-1879), Gustave Ernest Trumelet-Faber (1852-1916), Charles-Edouard Hocquard (1853-1911), Aurélien Pestel (1855-1897), Firmin-André Salles (1860-1929), Pierre Dieulefils (1862-1937)…

 

Dung nhan Bắc kỳ (Beautés tonkinoises), Charles-Edouard Hocquard - Hà Nội 1883 - 36 x 28cm

© Thư viện Quốc gia Pháp.

 

 

Thầy thuốc An-Nam (Médecin annamite),Pierre-Marie Alexis Dieulefils - Hanoi 1889 - 22,5 x 17cm

Sưu tập tư nhân.


Émile Gsell là nhiếp ảnh gia người Pháp chuyên nghiệp đầu tiên có mặt ở Sài Gòn. Năm 1866, ông tham gia cùng với đại tá hải quân Doudard de Lagrée trong cuộc thám hiểm danh tiếng ngược dòng Cửu Long đến Trung Hoa (Commission d’exploration du Mékong) cùng với trung úy Francis Garnier. Trong dịp này, những hình ảnh đền Angkor đã lần đầu tiên được ghi lại qua ống kính của Gsell.
Năm 1873 ông trở lại Angkor với trung úy Louis Delaporte. Cùng năm, hình ảnh quân Pháp đánh thành Hà Nội bởi Francis Garnier cũng được ông ghi lại.
Năm 1875, ông có mặt trong phái đoàn ngoại giao tại Huế do đại úy hải quân Jules Brossard de Corbigny lãnh đạo.
Trong thời gian 11/1876 - 1/1877, ông theo chân trung úy hải quân Kergadarec trở lại châu thổ sông Hồng, cùng đi với ông là nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp Jean Baptiste Pellissier.
Những bức ảnh của Emile Gsell chụp tại Việt Nam có lẽ là chứng nhân đầu tiên được thể hiện qua ảnh chụp1.
Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới Việt Nam năm 1884 với tính cách là bác sỹ quân y (11/01/1884 - 31/5/1886). Những bức ảnh có góc nhìn chuẩn mực và đầy tính mỹ thuật, với không gian mở rộng và nét sinh hoạt tinh tế đặc thù của dân cư vùng châu thổ sông Hồng cũng như các vùng núi đồi Việt Bắc và tại triều đình Huế chứng tỏ ông là một nhiếp ảnh gia tài năng, là người rất hiểu biết, gắn bó với văn hóa Việt Nam. Ngoài ra, thời gian này là lúc Pháp sắp sửa chiếm hết Việt Nam, những hình ảnh của Hocquard còn có một giá trị lịch sử rất lớn, là những di tích duy nhất còn sót lại mà chúng ta thấy được, đáng kể là điện Kính Thiên, hay những điện đài và thành trì xưa cũ ở Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định, Sơn Tây.
Hơn nữa, Hocquard cũng còn là người duy nhất, không những chụp ảnh, mà còn để lại những trang bất hủ về kịch, tuồng, chèo, vũ, nghề thêu, nghề khảm xà cừ, và cẩn đồng…

 

Cầu Thê Húc dẫn vào đền Ngọc Sơn (Pont de la pagode de Ngoc-Son sur le petit Lac),

Firmin-André Salles - Hanoi, 1896, 13 x 18 cm 

© Thư viện Quốc gia Pháp (SG XXCM-483)

 

5Chùa Triều Châu tại Hội An (Façade de la pagode des Trieu Chau à Fei-Foo),
Gustave Trumelet-Faber - Faifo 1888 - 12 x 16,5cm

© Viện Hàn lâm Khoa học Hải ngoại Pháp


Firmin - André Salles tham gia vào các hoạt động chiến tranh đầu tiên tại Bắc Bộ (1884), dưới sự chỉ huy của Đô đốc Courbet. Năm 1895-1896, ông trở lại Đông Dương trong chức vụ Thanh tra, nơi mà sau đó ông vẫn thường xuyên viếng thăm để ghi lại những thắng cảnh, di tích và đời sống sinh hoạt của người An Nam cuối thế kỷ XIX. Ông để lại rất nhiều hình trên kính (plaques de verre) tại Hội Địa lý Paris (Société de Géographie de Paris).
Aurélien Pestel nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp tại Campuchia và Sài Gòn năm 1885.
Tại Triển lãm Hoàn cầu Lyon 1894, một quyển album bằng kỹ thuật sơn mài truyền thống Việt Nam đầy tính mỹ thuật giới thiệu những hình ảnh hiếm quí về Nam Kỳ và Cam Bốt đã vinh danh tên tuổi của Aurélien Pestel.
Ông cộng tác với nhiều báo chí thời đó như “Le Tour du Monde“ hoặc “L’Illustration“ . Người ta biết ông nhiều qua bộ ảnh “Main de lettré annamite“.
Ông mất năm 1897 tại studio chụp ảnh cũng là nhà ở, số 10 Đại lộ Charner (Nguyễn Huệ), Sài Gòn. Nơi này, sau đó đã được Négadelle xử dụng, rồi Paullussen, và cuối cùng là Planté, đều là nhiếp ảnh gia có tiếng ở Việt Nam.
Năm 1888, đại úy Trumelet-Faber được bổ nhiệm vào tiểu đoàn 4 lính khố đỏ Nam-kỳ tại Huế. Năm 1890, trở thành chỉ huy trung đoàn 3 lính khố đỏ Bắc-kỳ, ông gặp Auguste Pavie và được giao một số nhiệm vụ trên các vùng cao, tiếp cận với đời sống hoang dã của người “Moï“. Từ Đông Dương, ông trở về Pháp với nhiều hình ảnh chụp những năm 1888-1891, đặc biệt là những hình ảnh với rất nhiều chi tiết về tập quán cũng nhưng phong tục của dân tộc thiểu số.
Xuất thân cựu sỹ quan trong đoàn quân viễn chinh Pháp (đến Tonkin năm 1885), Pierre Dieulefils mở cơ sở nhiếp ảnh tại Hà Nội năm 1888 sau khi được giải ngũ. Những tác phẩm của ông được giới thiệu lần đầu tiên tại Triển lãm Hoàn Cầu Paris năm 1889. Ðến năm 1902, Dieulefils bắt đầu làm bưu thiếp, trình bày phong cảnh, đền đài, nhân vật, thời sự và sinh hoạt của Đông Dương và Vân Nam. Công trình này được tiếp tục cho mãi đến giữa thập niên 1920, với tổng số hơn 5.000 bưu thiếp.

 

5Thành Thái, Hoàng Đế An-Nam trong thường phục (Empereur d’Annam en costume de ville),
Pierre-Marie Alexis Dieulefils - Huế 1897 - 20 x 16cm - Sưu tập tư nhân.

 

Chùa Một Cột (Pagode Chua-Mot-cot ou du Lotus),

Firmin-André Salles - Hanoi, 1898 , 13 x 18cm

© Thư viện Quốc gia Pháp (SG XXCM-521)

 

Cu-li người An-Nam có ngón chân giao chỉ (coolie annamite à gros orteils écartés (giao-chi)

Firmin-André Salles Tonkin - Langson, Hanoi, 1896,13 x 18 cm -
© Thư viện Quốc gia Pháp (SG XXCM-508)


Ngày nay, nhờ nghệ thuật nhiếp ảnh của ông, chúng ta biết được một cách cụ thể hình ảnh của đất nước và con người từ hơn một thế kỷ trước, nhất là biến cố lịch sử của cuộc khởi nghĩa Yên Thế 2.
Kỹ thuật in ấn hình ảnh vào thế kỷ XIX rất nhiêu khê và công phu, khó có thể tóm tắt vài dòng trong một bài viết ngắn. Không đi vào chi tiết chuyên môn, các bức ảnh trưng bày tại triển lãm Vai trò tiên phong của nhiếp ảnh ở Việt Nam được số hóa từ các nguyên bản thuộc loại “Đơn sắc trên giấy” (Monochrome sur papier), thông thường in bằng lòng trắng trứng (albumine) hoặc in kiểu photoglyptie (còn gọi Woodburytype).
- Người ta có thể dùng chất protéine phát sinh từ nguồn động vật hoặc thực vật để in. Lòng trắng trứng có rất nhiều protéine, được Niépce de Saint-Victor sử dụng như một chất liên kết cho các loại muối kim loại bạc, làm âm bản trên kính vào năm 1848. Năm 1850, lần đầu tiên Blanquart-Eward giới thiệu cách dùng lòng trắng trứng làm chất liên kết để in trên giấy tại Hàn lâm viện Khoa học Pháp. Nhờ độ phân giải và tái hiện những chi tiết tinh tế, cũng như sắc độ nâu đậm phong phú, các nhiếp ảnh viên mau chóng tiếp nhận cách in mới mẻ này và sử dụng nó cho đến cuối thế kỷ XIX.
- In kiểu photoglyptie là một cách in bằng quang học do Walter B. Woodbury giới thiệu vào năm 1864. Hình ảnh được in ra từ sự pha trộn của đen than - hoặc một sắc tố nào khác- trong keo mủ. Chất keo mủ có sắc tố ấy được đổ vào một khuôn chì và chuyển qua nền bám bằng giấy với sức ép. Điều độc đáo trong quy trình quang cơ của Woodburytype là việc tạo ra một hình ảnh có sắc độ liên tục. Tuy nhiên, cách in này có kết quả không đẹp bằng cách in albumine. 3
Một trăm năm mươi bức ảnh này đã được chọn lựa từ hàng nghìn bức.
Để đạt được mục đích giúp người ngoại quốc (và những bạn sống ở Việt Nam hay ở các nước) cảm nhận được quê hương chúng ta ngày xưa vốn rất đẹp, tràn đầy sắc thái phong phú của văn hóa và phong tục, cần phải gìn giữ và quảng bá ra thế giới, và, để cuộc hành trình về quá khứ có hiệu quả, Loan de Fontbrune, người tổ chức triển lãm, đã cùng Philippe Trương bình chú những hình ảnh về Huế và Trung kỳ; Philippe Franchini và Jérôme Ghesquière ghi lời thuyết minh liên quan đến Nam kỳ; Christine Hemmet phụ trách mô tả về người dân tộc thiểu số; Đinh Trọng Hiếu bình chú những hình ảnh về Bắc kỳ, cùng với Tôn Thất Thanh Vân, Marcelino Trương và Ngô Kim Khôi. Cuộc triển lãm sẽ kết thúc vào ngày 20/5/2014.

Ngô Kim Khôi (Paris)

(Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số tháng 5/2014)

Chú thích:

1 Năm 1863, vua Dực Tông (Tự Đức) cử quan Hiệp biện Đại học sỹ Phan Thanh Giản làm Chánh sứ sang Pháp thương nghị về việc xin chuộc ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường đã nhường đứt cho Pháp trong Hòa ước Nhâm Tuất, khoản 2, được ký vào ngày 5/6/1862.
Tại Paris, theo yêu cầu của Napoléon III, Jacques-Philippe Potteau, một nhà tự nhiên học thuộc Bảo tàng Lịch sử tự nhiên tại Paris, đã được lệnh chụp hình tất cả nhân viên của các đoàn sứ giả (Chánh sứ Phan Thanh Giản Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản và đoàn tùy tùng tổng cộng 63 người).
Không nói đến những hình ảnh của Hội Thừa sai, đặt chân đến Việt Nam vào thế kỷ thứ XVII, có lẽ lần đầu tiên một đoàn ngoại giao nước Việt Nam được chụp ảnh tại Paris. Những hình ảnh này mang tính khoa học nhiều hơn là ngoại giao hay chính trị. (Phạm Phú Thứ, "Tây hành nhât ký" (西 行 日 記 - L'ambassade de Phan Thanh Gian, 1863-1864), Bulletin des Amis du Vieux Huê, 1921, n°1-4).

2 Tuy nhiên, Dieulefils không trung thực, và lắm khi buộc dân mình làm những cử chỉ, bộ điệu khiếm nhã, đàn bà thì lột áo ra để chụp ảnh, hoặc những cảnh "bắt chí", "ăn chí" ngụ ý tả dân Việt Nam bẩn thỉu, dã man…
3 Bertrand Lavédrine, "(re)Connaître et conserver les photographies anciens" (Nhận biết và bảo quản hình ảnh xưa), nxb. Comité des travaux historiques et scientifiques, Paris 2008.

Bài viết liên quan / related articles
ý kiến - thảo luận / comments:
Mời bạn thảo luận / comments:

Họ tên:

Email:

Capcha

captcha

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)